CÁI TỦ THỜ (Phạm Quang Tân)

Thứ tư - 09/10/2019 06:32
Truyện ngắn:

Sau một đêm thức trắng, Ông Hai tắm rửa sạch sẽ, mặc áo dài khăn đóng, thượng đăng bái đường. Hai ngọn nến trên tủ thờ mỗi lúc một sáng tỏ. Ông cầm ba nén hương nghi ngút, xá ba xá, quì xuống trước bàn thờ.
Rưng rưng hai dòng lệ, ông khấn vái: “Cúi kính dưng hương trước cửu huyền thất tổ, ông bà, cha mẹ. Con luôn nghe lời dạy bảo của ông bà cha mẹ cần cù, chăm chỉ làm ăn, không một ngày chểnh mảng, nhưng thời cuộc đã đẩy gia đình con vào cảnh nghèo khó. Con không còn gì để bán, lấy tiền mua gạo ngoài cái tủ thờ. Con bất hiếu, kính xin cửu huyền thất tổ, ông bà, cha mẹ cho con bán cái tủ thờ này, để nuôi sống gia đình con trong cơn hoạn nạn. …”.
Ông đứng dậy lạy bốn lạy. Đến lạy cuối cùng, ông không đứng dậy nổi. Dập đầu xuống sàn nhà, khóc tức tưởi như đứa trẻ bị đòn oan .
...
Không phải đến năm nay, ông năm mươi tuổi, bà con trong làng mới gọi ông là Ông Hai mà mười, mười lăm năm trước, nhiều người đã gọi ông như vậy. Bởi vì ông giống như một ông già. Ông mặc Bà Ba đen khi đi làm và mặc Bà Ba trắng khi đi chơi, đi đám. Ông luôn cởi mở, thân thiện với mọi người, nhưng không một lời nói chơi, nói đùa . Mọi thứ với ông rất chỉnh chu, nghiêm túc .
Có người còn gọi ông là Ông Hai Nguyễn Thị để phân biệt với các Ông Hai khác. Không phải vì Ông Hai có làn da trắng như làn da con gái và trên đầu luôn có vành nón lá mỗi khi ra nắng, mà vì Ông Hai không biết hút thuốc, không biết uống rượu,…
Ở xứ Mặc Cần Dưng, ai cũng biết Ông Hai quá cơ cực lúc hai mươi và khá giả, giàu có ở tuổi bốn mươi.
Tử thần đã cướp mất người cha đáng kính của ông, khi ông chưa tròn mười bảy tuổi, em út vừa đầy tháng. Ngài chưa hả dạ, ngài lại rủ rê bọn quỷ dữ đến ám hại gia đình ông hai lần nữa.
Tháng ba là tháng xuống giống lúa mùa nước nổi, mẹ con ông bận việc bệnh hoạn, tang chế, những người làm ruộng lân cận, tiếp xuống giống. Đến lúc thu hoạch, họ đến gặt lúa và lấy luôn ruộng. Mẹ con ông thân yếu thế cô, đành bất lực với bọn cướp ngày thâm hiểm ấy.
Mấy tháng sau một băng cướp đêm có vũ trang tấn công vào xóm. Họ đuổi đi đàn bò là tư liệu sản xuất, là tài sản duy nhất của gia đình ông. Gia đình ông lâm vào cảnh bần hàn, đói rách.
Năm 18 tuổi, ông dẫn các em theo bà con vào kinh đào Ba thê, khai hoang, khẩn ruộng, đầu tắt mặt tối, năm này sang năm khác .
Đến đầu những năm bảy mươi gia đình ông thuộc hàng khá giả, giàu có, “ruộng trăm lúa ngàn”. Dựa lúa của ông hơn ngàn gịa, luôn được trữ lại đến mùa giáp hạt, sau khi cho bà con mượn một ít rồi mới bán, để chỗ cho lúa mùa mới.

Trước đây Ông Hai nổi tiếng với tài ngâm thuộc lòng truyện Lục Vân Tiên và truyện Kiều dù ông không biết viết và ông sở hữu cái tủ thờ chỉ có ở nhà các Ông Chủ, Ông Cả ,…Mấy năm nay, ông lại nổi tiếng vì vụ bị chính quyền "đo bồ" thu mua mấy trăm giạ lúa và ông không còn " cục đất chọi chim".
Một ngày đêm hãi hùng, tan thương của xóm ông vào mùa giáp hạt năm 1977 . Bà Bí thư xã cùng với cán bộ xã, ấp đem súng ống và những cây sắt dài, nhọn , đi lục lội, xét nhà, xom vào các đống rơm,... tìm lúa y như mấy thằng nguỵ ác ôn lùng sục hầm bí mật ở trại ruộng ông trước đây.
Oái oăm thay, một trong những người cầm những cây sắt nhọn hoắt đó là anh bạn được ông dấu trong hầm bí mật ngày nào. Họ đã cưỡng chế thu mua gần ngàn giạ lúa của nhà ông với giá rẻ mạt, chỉ để lại mấy chục giạ cho gia đình ông ăn vài tháng đến mùa lúa mới. Ông tức lắm, giận lắm, uất ức lắm, căm phẫn lắm,...

 
pham quang tan

Vài tuần sau, ông biết được, nhiều tỉnh và các thành phố lớn đang thiếu hụt lương thực, nên chính phủ có chính sách điều phối lương thực cứu đói cho đồng bào. Bản thân những người đến nhà ông cưỡng chế thu mua, họ phải một bữa cơm độn bo bo, một bữa cháo, bằng chế độ lượng thực phân phối. Gia đình người bạn đến “đo bồ ” nhà ông, người nào cũng tong teo, gầy guộc, có trẻ mắt vàng khè .
Từ đó, ông không còn tức giận và căm phẩm nữa . Ông thông cảm cho những cán bộ mẫn cán, lo cho cái chung, phải chịu những thị phi. Ông tin tưởng vào đường lối, chính sách của nhà nước, của chính phủ, luôn đem lại no cơm ấm áo cho đồng bào, mặc dù những chính sách đó luôn xâm hại đến quyền lợi của gia đình ông.
Năm sau, ruộng ngàn nhứt của ông ở kinh Ba Thê, chính quyền lấy cấp cho những người mới đến định cư, xây dưng vùng kinh tế mới tại địa phương. Ruộng ngàn nhì vào nông trường . Ruộng ở Mặc Dưng thì vào hợp tác xã. Hai chiếc máy cày SOMECA 805 màu cam cũng được trạm bơm của hợp tác xã trưng dụng.
Ông thật sự trắng tay. Cơn bệnh viêm phế quản mãn tính có từ thời đi khai hoang cũng thừa cơ bộc phát, hành hạ ông .
….
Ngày người ta đem cái tủ thờ mới đến, đổi cái tủ thờ cẩn ốc xà cừ bảy màu của nhà ông đi, ông cố tình lánh mặt. Ông ra mộ cha, ngồi thừ người, nhớ lại lời của cha, khi cha ông mua cái tủ thờ cẩn ấy.
Năm đó Ông mười lăm tuổi, cha mẹ ông tránh sạt lở dọc bờ sông Hậu, nên dời nhà từ làng Mỹ Hội bên cù lao Ông Chưởng , sang làng Bình Hòa bên bờ rạch Mặc Cần Dưng . Đang dọn nhà thì ghe thương hồ từ Gò Công ghé lại. Trong ghe thương hồ có cái tủ thở cẩn ốc sà cừ rất đẹp. Cha ông quyết định vay bạc lúa mua cái tủ thờ đó.
Ông thắc mắc. Cha ông giải thích:
“Cái tủ đó rất giống cái tủ của Ông Bà Nội con. Ông Cậu con đã bán đất, bán nhà, bán cái tủ thờ của ông bà nội con cho Ông Chủ Thanh , sau khi ông bà nội con qua đời đột ngột.
Lúc đó Cha mới chín tuổi, Chú Ba con mới bảy tuổi. Ông Cậu con đưa Cha và Chú Ba về trại ruộng ở Ba Dầu, làm ruộng, giữ bò cho Ông Cậu con. Năm Cha bằng tuổi con bây giờ, cha nghe loáng thoáng về cha mẹ và quê quán của mình.
Cũng năm đó cha dọn mâm cơm cúng giỗ bà nội con đặt trệt dưới đất, đốt mấy cây nhang cũng cấm dưới đất. Tự dưng nước mắt chảy dài tủi hổ cho phận làm con ,..
Mấy tháng sau, cha tìm về Đồng Súc xin gặp Ông Chủ Thanh. Cha xin làm mướn không công cho nhà Ông Chủ hai năm.Đổi lại , Ông Chủ cho cha một cái nhà bằng tre, để hai anh em ở và một cái bàn để thờ ông bà nội con. Cha đã làm cho nhà Ông Chủ đến ngày cưới mẹ con. Chính Ông Chủ đứng ra làm chủ hôn và cho cha mẹ một ít tiền ra riêng sinh sống. Ông Chủ nói thương Cha vì Cha có lòng hiếu thảo với cha mẹ. Những năm làm ở nhà Ông Chủ cha chăm sóc cái tủ thờ đó rất kỹ. Cha rất muốn có lại cái tủ thờ của cha mẹ nhưng không thể, có được cái tủ này là phước rồi !....."
Vậy mà hôm nay, Ông lại phải bán cái tủ thờ đó đi. Ông tự sỉ vả mình : “Đúng là đồ bất hiếu”.
…..
Ai đó nói: “ Cảnh khổ nào cũng có cũng có thể vượt qua miễn còn có cơm ăn .” Câu này đúng với nhiều gia đình như gia đình Ông Hai.
Mấy năm sau, Chính phủ có chính sách mới về nông nghiệp và phát triển nông thôn. Giải thể nông trường, hợp tác xã, tập đoàn sản xuất. Không còn khái niệm xâm canh hay trực canh. Công nhận quyền sử dụng đất của những người đi khai hoang, gọi là chủ cũ. Các tỉnh miền Nam rầm rộ phong trào thương lượng về quyền sử dụng đất giữa người chủ cũ và chủ mới. Ông được nhận lại phân nửa số ruộng.
Vợ chồng Chú Út, cùng ông canh tác lúa hai vụ phần ruộng được nhận lại. Không lâu kinh tế gia đình hồi phục. Trong lúc khó khăn những người con lớn của ông phải trôi dạt ra miền ngoài kiếm sống, có người ngược dòng Mê Kông lên tận Phnompenh . Ai cũng chăm chỉ vượt khó, sau mười mấy năm, tất cả đều khá giả .
Năm Ông Hai bảy mươi tuổi, sau bữa cơm mùng hai tết, con cháu ông họp mặt đông đủ bàn việc làm lại nhà. Ông chú ý xem bản vẽ và phối cảnh ngôi nhà, nghe Chú Hai con trai lớn của ông trình bày và mọi người đóng góp ý kiến … Một hồi lâu, ông nói :
- Các con có tiền làm nhà đẹp, nhà lớn cho ba, sau này có chỗ thờ phượng ông bà tổ tiên tôn nghiêm ba mừng lắm. Có điều này, ba luôn ray rức mấy chục năm nay. Lúc mất ruộng, ba đã đổi bán cái tủ thờ của ông bà nội con để lại. Cái nhà các con làm nhỏ lại hay bỏ bớt các phần không cần thiết, nhín ra một số tiền, mấy năm nay ba có dành dụm một ít, các con lấy tiền đó đi đặt người ta làm cái tủ thờ cẩn ốc xà cừ giống như cái tủ thờ nhà mình hồi xưa. Các con qua bên Đồng Súc chụp hình cái tủ thờ nhà cháu Ông Chủ Thanh làm kiểu .”
Ông chưa dứt lời Chú Hai đã vẩy nẩy:
- Ba cứ cố chấp hoài. Chuyện đã qua thì cho qua đi! Ba đâu có sai gì mà áy náy . Ngày xưa túng quá thì bán. Cám ơn ông bà nội để lại của quí nuôi sống gia đình ta trong lúc khó khăn là được rồi. Bây giờ nhà mới tân thời thì nội thất bàn thờ, tủ thờ phải tân thời coi mới được chớ. Tiền có thì cứ xài, thích ăn gì thì mua ăn, dành dụm làm gì? Chuyện thờ phượng cúng kiến bây giờ là chuyện của tụi con ba không phải lo? Cổ hủ, cố chấp quá con cháu chịu sao nổi.
Mọi người ngơ ngác, tỏ vẻ bất bình với Chú Hai, nhưng chưa dám ý kiến. Ông Hai đưa tay áo lên dụi mắt, đứng dậy lủi thủi ra ngoài…Tiếng võng đưa kẻo kẹt rích lên nghe não cả ruột.
…..
Ông Hai tỉnh lại, sau cơn mê sảng, vật vã. Người đang ôm chặt lấy ông không phải là Chú Út như mọi khi mà là Thằng Huế. Mồ hôi nhuể nhoãi, nước mắt dàn dụa, nó gọi “ Ông Nội, Ông Nội…"
Thằng Huế có cái tên khai sinh đẹp như tên ông vậy, nhưng từ bé Ông gọi nó là Thằng Huế, vì nó nói giọng người miền ngoài trại trại, khó nghe. Trước nay, ông không thích và không tin cậy thằng cháu đích tôn này. Nó không lễ phép gì cả . Hồi nhỏ, mỗi lần về nhà, nó không khoanh tay “Thưa Ông Nội con mới về “, mà cứ “Cháu chào ông" rồi câu vai, bá cổ. Bảo nó vào xá bàn thờ như ba mẹ nó, nó lại: “Không, không...". Lớn lên nó cứ bàn giữa gân cổ tranh luận với ông, trong khi cha chú nó luôn khép nép .
- Ở đây là đâu vậy ?
- Dạ. Ở đây là bênh viện .... Ông Nội mơ thấy gì mà la dữ thế?.
- Nói cho tui bây biết để làm gì!
- Cháu biết ông nội mơ thấy gì mà! Ông Nội an tâm dưỡng bệnh đi, cháu sẽ nói với ba cháu đi đặt cái tủ thờ cẩn ốc xà cừ cho ông nội .
- Ba mày tánh ngang như giàn bầu, biết nghe lời ai đâu mà nói với bảo .
- Ba cháu không chịu, thì cháu đi làm, rồi gọi các cô, các chú hỗ trợ. Ông Nội cứ an tâm!
Nghe Thằng Huế nói thế, Ông cảm thấy ấm lòng. Nhưng nhớ lại lời của ba nó hôm tết, ông lại thở dài.

Con cháu chạy ra đón ông khi chiếc Ford bảy chỗ dừng lại trong sân. Ông không còn tin vào tai, vào mắt mình. Ngôi nhà mới của ông không phải là ngôi nhà ngói xanh, mái Thái như trong bản vẽ và phối cảnh hôm tết, mà nó y như ngôi nhà cũ, nhưng cao ráo hơn, màu sơn đẹp hơn. Sàn gỗ, vách gỗ được thay bằng gạch men và đá granic bóng loáng.
Ông vịn vai Thằng Huế vào nhà. Ông hoa mắt, rồi không còn sức nhấc chân lên được, khi thấy phía dưới bộ lư óng ánh, rực đỏ hai ngọn nến là cái tủ thờ cẩn ốc xà cừ bảy màu năm xưa....

Ông đang đu đưa mấy câu Lục Vân Tiên trên võng: "Trai thời trung hiếu làm đầu. Gái thời tiết hạnh là câu trau mình...”, thì có điện thoại từ Isarel, Thằng Huế bảo, nó đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ, ngày mai bay về Sài Gòn, ngày mốt nó và ba mẹ nó cùng về thăm ông và làm lễ tạ ơn ông bà tổ tiên.
Rạng sáng hôm sau, Chú Út thấy Ông Hai trong bộ lễ phục, áo dài, khăn đóng nằm bất động trên giường, môi như nở nụ cười nhưng tim đã ngừng đập. Trên tủ thờ khói hương còn phảng phất, đỏ rực hai ngọn hồng lạp./


 
Phạm Quang Tân


 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

LỜI NGỎ

  Hội nhóm Quán Chiêu Văn là nơi dành cho những người yêu thích văn chương và viết lách lui tới giao lưu sinh hoạt và chia sẻ cùng nhau về sở thích. Thành viên tự nguyện tham gia, không phân biệt vùng miền, tuổi tác, giới tính, nghề nghiệp và vị trí công tác... Tất cả thành viên đều...

Thăm dò ý kiến

Bạn biết gì về Quán Chiêu Văn?

Thống kê
  • Đang truy cập9
  • Máy chủ tìm kiếm4
  • Khách viếng thăm5
  • Hôm nay1,324
  • Tháng hiện tại30,341
  • Tổng lượt truy cập2,634,863
QUÁN CHIÊU VĂN left
tn2
tn1
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây