CON GÀ NHÀ MƯỜNG

Thứ năm - 03/06/2021 02:51

Tản văn của Thy Sương

Tôi hay nhớ vào mùa lạnh, bếp mường tôi nhà nào cũng đỏ lửa từ tinh mơ đến khuya khắt. Con người cứ dính lấy bếp lửa, líu ríu nhì nhằng như trai gái phải lòng nhau. Xúc vật, gia cầm co ro chẳng muốn bước chân ra vườn, ra đồi kiếm ăn. Nhà nào cũng chặt lá cọ tươi, giật cọng lá chuối khô đem buộc vây quanh chuồng gà, chuồng trâu che gió.

Mỗi sáng mai, mẹ trở dậy nhóm xong bếp lửa việc đầu tiên là đem nhúm mẳn trấu vụn, trộn ngô, xuống sân, mở cửa chuồng gà gọi chúng ra ăn, rồi đếm đi đếm lại, soi ngó kỹ chuồng. Mỗi chập chiều, bắc xong nồi cơm lên bếp cũng vội vã băm mấy mẩu sắn tươi, đem vãi trước cửa chuồng gọi chúng về ăn, lại cũng đếm xuôi đếm ngược xem chúng có về đủ không. Thiếu một con là mẹ vội vã bỏ bê, kệ bếp núc chạy khắp vườn tìm cho kỳ được, dù chỉ còn là cái xác cứng quơ ở bụi bờ nào đó xách về chôn cất cẩn thận ở góc vườn. Mẹ tiếc của tiếc nả và mẹ cũng thương chúng lắm. Nên mỗi lần mất mát như thế mẹ tha thểu, rầu rĩ đến sốt ruột người trong nhà. Bọn gà, lợn, trâu ghé dưới gầm sàn nhà tôi được bố mẹ tôi chăm chút, yêu thương như thể chăm con mọn vậy. Có nhiều đêm trời lạnh giá, lũ gà lục cục dưới gầm sàn, trên nhà hai thân già cũng trằn trọc. Mùa đông trên núi khắc nghiệt, có khi chỉ qua một đêm rét đậm là gia tài của nhà ai đó cũng tiêu tan theo xác những con vật dưới gầm sàn.Trong các con vật người Mường nuôi, trừ con trâu như tài sản lớn, thì gà là con vật được quý trọng nhất, là thứ của cải mang nhiều ý nghĩa, cần thiết và quan trọng trong mọi mặt đời sống của dân Mường.

 
unnamed (6)

Quý nhất là con gà trống, nó như chiếc đồng hồ báo thức, nó là bạn tốt, là tri kỷ, nhắc báo giờ giấc cho người. Là thằng đầy tớ trung thành và chăm chỉ. Từ xưa, người Mường tôi chẳng mấy nhà có đồng hồ, hoặc nếu hiếm hoi nhà nào đó có được cũng chỉ xem giờ ban ngày, hoặc có khi còn chẳng quen ngó tới mà chỉ trưng làm diện. Ban ngày họ đoán giờ bằng mặt trời, bằng cơn đói réo rỉ trong bụng. Ban đêm đoán giờ bằng cơn buồn ngủ của trẻ con. Từ quá nửa khuya trở qua ngày mới, tiếng gà gáy là chiếc đồng hồ căn chuẩn, đều đặn và thân quen nhất trong tiềm thức người mường bao đời.

Tiếng gà lúc quá nửa đêm báo sang ngày mới được gọi là gáy gáy một. Tiếng gáy lúc này để nhắc gọi những đôi trai gái, còn mải mê hò hẹn, bịn rịn đâu đó cuối dốc, đầu bản, hãy tạm rời xa nhau về ngủ nghỉ để ngày mai còn lên rẫy lên đồi. Nhắc giục những người đàn bà lụi cụi, cần mẫn bên khung cửi khoắt khuya, hãy bỏ việc, ngơi tay sau ngày dài đã nhọc nhoài nương núi. Nhắc báo giờ về cho những người đàn ông lặn lội xách đèn, đốt đóm đi man, soi bắt con cua, con dế, con ếch ngoài ruộng xa, suối sâu, mong kiếm bữa mai ngọt canh, ngon bát cơm độn cho con trẻ. Rồi lần lượt qua mỗi canh sau gọi là gà gáy hai, gáy ba…

Khi ngày mới chơm chớm rạng phía đầu núi, tiếng gà xôn xao gọi to, rõ, rộn rã hơn bất kỳ khi nào, đó là tiếng gà gáy sáng, thức gọi trời đất, nương núi bừng tỉnh. Giục những mẹ dậy nhóm lửa cho rạng bếp, giục những chị dậy ra bến vác những ống nước mó ngọt lành đầu sương, giục những cha, những anh dậy dắt trâu vội vã sớm buổi cày. Tôi còn nhớ hồi bé, chừng lúc sang canh một, chúng tôi thường bị tỉnh giấc lây, vì lúc đó cha mẹ mới ngơi việc, rửa tay chân, lúc rúc lên ngủ cùng chúng tôi. Rồi không bao lâu, lại bị thức tỉnh vào lúc bọn gà gọi sáng. Nằm im lìm trong chăn nghe tiếng mẹ đi rất nhẹ trên sàn, xuống thang ôm củi lên bếp, phù phù thổi lửa nhóm khói. Tiếng xoong nồi xổn xoảng, biết mẹ đang bắc vội nồi cơm độn hoặc đồ lại bát cơm nguội kịp cho chúng tôi có cái ăn tạm đến trường. Thế mà nằm cố thêm non giấc nữa, tỉnh dậy còn chưa kịp rời bếp lửa đi học, cha và con trâu đã xong buổi cày ngoài ruộng về lại gầm sàn. Lúc sương bắt đầu rỉ rỏ tan những giọt đầu tiên trên đất, con đường lồ lộ nét mình phía trước nhà, chúng tôi bắt đầu ôm sách vở đi học, cha và mẹ cũng lại theo nhau vội vã ngược phía nương đồi. Lúc này, vài con gà vẫn lác nhác tiếng gọi, như thể sợ còn đâu đó có người quên giấc muộn ngày.

Người mường tôi cần mẫn, lam lũ quên biết ngày biết tháng, quên biết sớm biết khuya. Nếu không có con gà gọi một, nhắc lúc trở ngày khuya khoắt để họ đi ngủ thì sức đâu hôm sau nương rãy, ruộng đồng. Nếu không có con gà gáy sáng, gọi nhắc trở dậy, thì những vất vả mệt nhọc ngày qua sẽ cuốn chìm họ vào giấc dài, làm sao kịp buổi nương sớm ngày vụ ngày mùa. Cho nên, người mường coi con gà trống như bạn, như của cải quý hơn cả chiếc đồng hồ đắt tiền treo trong nhà người giàu dưới xuôi. Con gà trống, nó còn là thằng đầy tớ ân nghĩa, trung thành. Bất kể mùa lạnh giá hay ấm áp, đêm mưa bão hay thanh bình, kể cả mùa đói dài, thân rộc gầy, diều lép, vẫn giữ đầy tiếng, tròn hơi, đều đều một năm ba trăm sáu mươi lăm ngày, gáy gọi không quên một ngày, không trễ một canh.

 
11 phu 11 16106307830571259917126

Ở Mường, gà còn là thứ để người ta thể hiện sự hiếu khách, yêu quý con cháu, họ hàng. Tôi nhớ, có lần bố tôi có bạn lính cũ ở xa tới thăm. May mắn bữa đó trong làng có nhà thịt trâu, nhà tôi cũng mua được một phần, cha ra ao quăng chài kiếm thêm được đôi cá vừa đẹp đĩa, cộng rau, măng, củ, quả… nữa mâm cơm cũng đã “thịnh soạn”. Nhưng mặt cha cứ đăm đăm nghĩ ngợi, kéo mẹ ra sau nhà thì thào, thì thầm. Mẹ tôi nhỉ nhẩm “trời đất, gà nhà ta còn có dăm con, mà con lớn nhất chỉ bằng nắm tay, còn tanh lắm, làm thịt thêm xấu hổ với khách”. Cha vò đầu :“gay thật, khách là khách quý, mà mâm không có nổi đĩa thịt gà thì mặt mũi đâu…”. Hai người đi ra đi vào, bàn ngược bàn xuôi, cuối cùng mẹ cũng chạy vào làng đi vay kỳ được con gà choai choai về thiết khách.

Nhà tôi có một người cô thứ năm đi lấy chồng xa, lâu lâu về thăm nhà. To nhỏ gì, bữa cơm mẹ và bà cũng thịt một con gà. Con gái Mường trước kia đi làm dâu nhà người thường nhịn thèm đủ thứ. Cơm chỉ dám ăn lưng vơi bụng, thức ăn dù có bày đầy mâm cũng chỉ dám chạm đũa đôi lần, còn lại quanh năm, suốt tháng ăn cơm cơm độn chấm muối, húp canh rau. Thế nên mỗi lần con gái về thăm, nhà có thứ gì quý nhất sẽ nấu dọn cho con ăn. Mà ở nhà mường, không thứ gì hơn miếng thịt gà, ngon chưa biết bằng gì nhưng quý là thương thì con gà để thể hiện cao nhất. Bởi vậy, người ta có thể thiếu lúa trên gác, thiếu áo đẹp trên sào, nhịn miệng thèm ăn, nhưng không mấy khi để thiếu con gà trong bữa cơm cho khách và bữa cơm đón con gái, con rể ở nhà bên chồng về. Những việc nhỏ nhoi, việc tình cảm riêng giữa con người với con người thôi đã vậy. Việc đại sự, to táp lại càng không thể thiếu gà. Không có con gà, ông mơ không thể dẫn mối cho trai gái thành vợ chồng, ông ậu thầy không thể dẫn vía gia chủ về nhà mới, thầy mo không thể dẫn vía người chết về mường trời, không bảo được vía người sống “ăn lắng ở lành” mỗi khi ốm yếu, buồn sầu. Không thể dặn vía vợ chồng mới cưới ăn đời ở kiếp với nhau, không dỗ dành được vía trẻ con ngoan ngoãn, hay ăn chóng lớn, mạnh khỏe, an bình. Tất cả các đám lễ, công to việc nhỏ trong Mường, con gà là yếu tố làm trọng, quết định sự thành bại của việc.

Cha kể, ngày trước yêu thương và đã đi lại cau trầu với một người con gái Mường Rặc. Vì nhà nghèo, đông con, năm đầu tiên đi tết nhà mộng thông gia mới, lại vào năm đói kém, dịch hạn. Gà lễ chỉ đôi con lỡ lỡ, vừa kịp đủ lông. Nhà người ta con gái một, lại cũng khá giả, thế nên nhìn lễ mà cho rằng, bên nhà ông bà nội tôi không xem trọng con gái họ, không quý thông gia. Phật ý thế nào, rồi nhà họ cấm đoán cha và cô ấy đi lại. Chẳng bao lâu sau, cố ấy được gả cho người mường xa. Cha tôi buồn sầu nhiều năm, cho đến khi gặp mẹ mới tìm lại được hạnh phúc. Nghe cha kể tôi thương thương, nhưng lại thấy may mắn, vì nếu chẳng thế, nếu người ta đã chẳng quá xem trọng lễ lạt, sang quý, thấp hèn ở con gà, mâm cỗ, chắc gì tôi đã có mặt trên đời này. Tôi hay nói vui với cha như vậy. Nhưng thực con gà ở mường hệ trọng quá. Nó làm nên đôi nên lứa, nhưng cũng đôi khi làm lỡ làng, ngang trái duyên lành của ai đó.

Với trẻ con ở Mường, con gà càng là thứ quan trọng. Trẻ con sinh ra có mạnh khỏe, có lớn khôn được hay không thì phải nhờ vào cái vía khỏe, vía lành. Mà vía muốn khỏe, muốn lành ngoan thì hằng năm nhà mộng ngoại phải làm lễ đám cho vía trẻ con một lần, gọi là vía năm. Vía năm không cần gì to táp, cầu kỳ, nhiều nhặn nhưng nhất thiết phải có đôi gà thịt, đôi bò gạo, nắm xôi, dăm cái banh chưng bằng nắm tay con nít…. Là được. Chỉ khó khăn nhất là làm lễ vía đặt tên cho trẻ con, phải có nhiều gà hơn, lại thêm con lợn, áo mới, gạo thúng, banh troi… và vài thứ nữa. Lo được một cái đám vía cũng là cả một vấn đề lớn. Bởi thế, có đứa lên năm, lên ba nhà ngoại mới đi làm vía đạt tên cho, lúc đó mới có tên để gọi, hoặc nhà nào đông cháu, mộng ngoại cũng đành dồn dành vài năm mới làm vía một thể cho tất cả bầy cháu, chỉ vì không kịp lo đủ lợn to, gà bầy mà đi làm vía đặt tên.

Việc đám xá, cỗ lễ ở Mường dẫu có thịt chín trâu, mười bò cũng sẽ chẳng lý gì nếu thiếu thịt gà. Nhà nào đó sẽ oai oách, rạng mày, nở mặt với thiên hạ lắm, khi đám cỗ nhà mình có những đĩa thịt gà to đầy. Cứ như thể, nhờ có con gà, mà người ta cũng thể hiện được sự phú quý, giàu sang, khoe được công sức, sự chăm chỉ, tằn tiện, giỏi giang của mình. Người già, cao niên, lão làng ngồi vào mâm được xem cái chân gà, gắp cái mề, cái phao câu gà là như nhận phần hiếu nghĩa con cháu dành dâng. Có khi ngồi hết bữa chẳng gặm nổi miếng nào vẫn thấy vui vẻ, phấn khởi, no lòng, chừng thọ thêm được cả trăm năm nữa. Trẻ con ngồi mâm đầy xôi đầy thịt, cũng sẽ chẳng chịu yên, nếu không cầm được cái đùi gà, hay cắn chung với nhau một miếng đùi. Người lớn chặt thịt gà, dè xẻn sắp đĩa ra sao, cũng không được chặt nhỏ cái đùi gà, nếu không, tủi vía, trẻ con khóc suốt những bữa cơm.

Như bao dân tộc khác, người Mường có tục đi tết nhà ngoại và đi tết tạ ơn thầy lang. Lễ lạc đem theo có thể ít thứ, nhiều thứ tuỳ vào hoàn cảnh từng gia đình. Nhưng gà là thứ bắt buộc phải có, để con gái đem về thể hiện lòng hiếu lễ với cha mẹ tổ tiên bên ngoại, con rể qua đó thể hiện lòng biết ơn đấng sinh thành, đã sinh cho mình một người vợ ngoan đảm. Con gà trong nắm xôi lễ tết thầy lang cũng cần thiết, để thể hiện lòng thành với ma nôổ nhà mo, để lần sau có đau ốm, hoạn nạn mới được phù hộ, giúp đỡ lấy thuốc thang, tơm khấn khấn cho lành bệnh.

Chỉ là con gà thôi, nhưng bất cứ lúc nào, ở đâu nó cũng hiển hiện, cũng cần thiết và quý giá hơn tất thảy mọi thứ trong đời sống nhà mường. Trong hội làng, lễ xuân, đá gà là một thú chơi tiêu nhã, được dân Mường yêu thích bao đời. Sân hội, bãi làng rộn rã cồng chiêng, dập dìu múa pồn pông hát xường, ném còn và bao trò khác. Nhưng nếu thiếu tiếng hò reo, náo nhiệt ở những góc sân của vài đội đá gà thì sân hội cũng bớt vị, bớt thú. Đặc biệt lũ trai choai choai chưa biết để ý bạn tình, và những người đàn ông có vợ, thì chọi gà là thú chơi yêu thích nhất, cuốn hút họ làm rộn rã sân làng. Câu chuyện về những cuộc chiến, về những chú gà huyền thoại cứ theo họ trên nẻo đường về, thậm chí cứ lôm xôm mãi ở mâm rượu.

Còn cả trăm lý do nữa, ví như nhờ có con gà liếp nhiếp, đổi sách thơm bút đẹp mà lũ trẻ làng có được nhúm chữ thành người. Cũng chẳng ít nhà nuôi được con thành danh, mà không ít công lao phải nhờ cậy đến con gà. Ở đâu đó con gà chỉ làm nên những món ẩm thực ngon. Còn ở Mường tôi, con gà là bạn, là tri kỷ, là của cải quý giá, làm nên cuộc sống đẹp đẽ bao đời.

Trong các con vật người Mường nuôi, trừ con trâu như tài sản lớn, thì gà là con vật được quý trọng nhất, là thứ của cải mang nhiều ý nghĩa, cần thiết và quan trọng trong mọi mặt đời sống của dân Mường.
T.S

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

LỜI NGỎ

  Hội nhóm Quán Chiêu Văn là nơi dành cho những người yêu thích văn chương và viết lách lui tới giao lưu sinh hoạt và chia sẻ cùng nhau về sở thích. Thành viên tự nguyện tham gia, không phân biệt vùng miền, tuổi tác, giới tính, nghề nghiệp và vị trí công tác... Tất cả thành viên đều...

Thăm dò ý kiến

Bạn biết gì về Quán Chiêu Văn?

Thống kê
  • Đang truy cập31
  • Máy chủ tìm kiếm5
  • Khách viếng thăm26
  • Hôm nay16,461
  • Tháng hiện tại77,288
  • Tổng lượt truy cập3,230,898
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây