ĐỜN CA TÀI TỬ LÀM PHONG PHÚ TÂM HỒN TÔI - Tác giả Phạm Quang Tân

Chủ nhật - 18/10/2020 23:41
Bút ký của Phạm Quang Tân: 
 
ĐỜN CA TÀI TỬ LÀM PHONG PHÚ TÂM HỒN TÔI


Vừa qua, trong hành trình xuyên Việt, tôi đến thăm khu tưởng niệm nhạc sĩ Cao Văn Lầu và bảo tàng Đàn Ca Tài Tử ở thành phố Bạc Liêu. Tôi rất xúc động. Ký ức tuổi thơ, kỷ niệm thời thanh xuân với Đàn Ca Tài Tử hiện về. Tôi nhớ và biết ơn nhiều người, nhận thức rằng Đàn Ca Tài Tử đã làm phong phú tâm hồn tôi.
Ông nội tôi được chính thân phụ truyền lại ngón đàn từ thuở thiếu niên. Ông chơi được đàn kìm, đàn cò, đàn tranh. Nhưng đam mê của ông không phải là tài tử, là nghệ sĩ, mà là khai hoang, khẩn ruộng, là điền chủ. Tiếng đàn của ông ít được nghe thấy trong đám tiệc, lễ hội, mà bồng bềnh miên man theo nhịp chèo đi mở đất, nhặt khoan trầm bổng dưới ánh trăng trước sân trại ruộng giữa cánh đồng bát ngát mênh mông. Ông tôi mất sớm vào những năm ly loạn, Tây bố, Nhật càng, đảng phái tôn giáo cát cứ, chưa kịp truyền lại ngón đàn cho con cháu, chỉ để lại các nhạc cụ luống màu thời gian.
"Chín năm làm một Điện Biên. Nên vành hoa đỏ, nên thiên sử vàng”.( Tố Hữu)
Chiến thắng Điện Biên Phủ, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống pháp 9 năm. Hiệp định Giơnevơ được ký kết. Tuy đất nước còn chia cắt, nhưng nhân dân cả hai miền đều hưởng được cuộc sống hòa bình. Đàn Ca Tài Tử được chấn hưng. Năm hòa bình đầu tiên, Bà nội quyết định cho chú Năm đi học đàn để giữ truyền thống của gia đình. Chú Năm phải ba năm cơm gạo sang nhà ngoại bên Cù Lao Ông Chưởng học đàn từ người anh họ, một danh cầm tiếng tăm lúc bấy giờ. Khi chú thành thạo tất cả bài bản, thì ngôi nhà của nội tôi, nơi tôi cất tiếng khóc chào đời là một điểm đàn ca tài tử của xứ Mặc Dưng. Không quá, khi nói rằng những âm thanh cuộc sống tôi cảm nhận đầu tiên có tiếng đàn, lời ca của Đàn Ca Tài Tử.
Các cao niên trong làng Đàn Ca Tài Tử tương truyền, từ đầu thế kỷ thứ 18, những người nông dân áo vải theo Chưởng Binh Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh "mang gươm đi mở cõi " phương nam, đã đem theo các làn điệu dân ca xứ Huế, xứ Quảng vào vùng đất mới. Nhạc lễ theo các nhạc quan Đàn Trong chạy về phương nam, sau lần thành Phú Xuân thất thủ trước Khởi Nghĩa Tây Sơn. Các làn điệu dân ca xứ Huế , xứ Quảng , nhạc lễ khi đến phương Nam giao thoa với âm nhạc Ngũ Cung của người Khơme tạo nên các giai điệu dân ca đặc sắc Nam bộ.
Đến cuối thế kỷ 19, Kinh thành Huế bị uy hiếp bởi thực dân Pháp các nhạc sư gốc miền Trung từng là nhạc quan ở cung đình Huế, khi đến phương Nam, đã đem bài bản âm nhạc bác học cung đình Huế, xứ Quảng vào sinh hoạt dân ca dân gian Nam bộ đang sôi động phát triển. Mục đích ban đầu chỉ để phục vụ nghe chơi với nhau giữa một số người, trong một hoàn cảnh nhất định. Dần dần thu hút thêm nhiều đối tượng, không gian càng ngày mở rộng hơn, hình thành một loại hình nghệ thuật dân gian độc đáo là Đờn Ca Tài Tử ở Nam bộ.
Ban đầu, chỉ có 20 bài bản tiêu biểu, theo thời gian các nhạc sư, các nhạc sĩ, các tài tử
dựa vào nguyên tắc các bài bản tổ và các làn điệu dân ca đã sáng tác thêm rất nhiều bài bản mới mang âm hưởng bản sắc Nam bộ. Tiêu biểu nhất là bản Dạ Cổ Hoài Lang của nhạc sĩ Cao Văn Lầu được sáng tác năm 1920, phát triển thành bản Vọng Cổ hiện nay.
Đến cuốn thập niên 50, khi chú tôi học đàn đã có hơn trăm bản. Một thầy đờn lúc bấy phải thành thạo tối thiểu 72 bản ."Tối thiểu lão thông nhị thập huyền cổ bản. Thậm đa lịch luyện thất thập nhị huyền công”. Sau này có rất nhiều bài bản đậm đà bản sắc, nhưng rất gần gũi với âm nhạc hiện đại ( tân nhạc ) ra đời. Có thể nói hệ thống bài bản trong nghệ thuật Đờn Ca Tài Tử đã phát triển phong phú, đa dạng, chứa đựng nhiều nét tinh hoa của âm nhạc cổ truyền Việt Nam.
Lúc sơ khai chỉ có đờn, sau đó mới có thêm ca cùng với đờn, nên gọi là đờn ca. Khi Cải Lương chưa phát triển thì các tài tử sáng tác lời ca theo giai điệu các bản nhạc có sẵn. Do đó, một bản nhạc có rất nhiều bài ca. Tôi thuộc 3 ,4 bài ca bản Xuân Tình như bài Tống Tửu Đơn Hùng Tín , bài chúc mừng đám cưới, bài nói về các loài chim,....Sáng tác bài ca mang tính tập thể, dân gian nên đa phần không rõ tác giả và luôn dị bản ở không gian và thời gian khác. Tuy nhiên vẫn có một số bài ca rất hoàn hảo, luôn tồn tại nguyên bản theo thời gian và ở bất cứ vùng nào như bài Bá Nha Tử Kỳ bản Lưu Thủy Trường. Có lẽ những bài ca như thế do một nghệ nhân tài ba sáng tác. Từ khi Cải Lương phát triển, bài ca phong phú hơn, có thêm các trích đoạn trong các vở tuồng. Ngày nay, trích đoạn Hàn Mặc Tử biết mình bị bệnh phong cùi do Mai Đình mang đến trong vở Hàn Mặc Tử, gồm một đoạn nói lối, một bản Văn Thiên Tường và 2 câu Vọng Cổ, luôn được chuộng trong các buổi đàn ca.
Đàn Ca Tài Tử trình diễn trong không gian tương đối nhỏ như trong gia đình, tại đám cưới, đám giỗ, sau khi thu hoạch mùa vụ, lúc bạn bè, anh em, họ hàng đến thăm nhau, ngày lễ ngày tết. Ở các lễ hội thì trình diễn trong mái đình, mái dinh,... Chủ yếu là đờn ca với nhau trong cộng đồng, luôn có đông đảo khán giả, thính giả là bà con trong thôn xóm.
Cuối thập niên 50 và thập niên 60, khi Chú Năm thành thầy đờn, là những năm hưng thịnh của Đàn Ca Tài Tử. Lúc bấy giờ làng làng, nhà nhà, người người đều chơi đờn ca tài tử. Nhiều nhà cho con đi học đờn để thành thầy đờn. Nhiều người học ca để thành thầy ca. Người không có điều kiện, không có giọng thì làm thính giả ủng hộ, cổ vũ. Sinh hoạt đờn ca sôi động khắp các thành thị, nông thôn, từng làng quê, thôn xóm.
Các cô các chú tôi đều biết ca. Chồng của một người cô là một danh cầm của xứ Mỹ Hội. Ba tôi không biết đờn, không biết ca nhưng là người luôn tổ chức các buổi đờn ca. Chú Năm có nhiều người thầy, nhiều bạn đồng nghiệp, nhiều học trò. Vì thế, họ hàng, bà con xứ Mặc Dưng, hơn chục năm luôn được xem, được nghe đàn ca tài tử tại nhà nội tôi, nhất là đêm trước ngày giỗ ông nội .
Hiên nhà, được đặt thêm một bộ ván ngựa. Bộ có sẵn dành cho các thầy đờn, bộ mới dành cho các thầy ca khách mời. Còn các thầy ca địa phương thì ngồi lẫn với bà con ngoài sân trên những chiếc ghế đẩu. Trời vừa sẩm tối, một chiếc đèn măng- sông được thấp sáng, tiếng đàn, tiếng song lan vang lên, đêm đờn ca bắt đầu.
Những buổi đờn ca như vậy, luôn có đủ tứ tuyệt là đờn kìm, đờn tranh, đờn cò, đờn độc huyền ( đờn bầu) và ghita phím lõm.
Đờn ca tài tử không có chương trình, không có người dẫn, cũng không có thủ tục đăng ký như trong chương trình văn nghệ ở các đám tiệc hiện nay. Hoàn toàn do ngẫu hứng. Muốn chơi bài bản gì thì dàn nhạc "rao" (đàn dạo) giai điệu bài bản đó, người nào muốn ca thì ra hiệu, Thầy đờn đang giữ song lan ( thường là người chơi đàn kìm hoặc cao tuổi ) gõ song lan bắt nhịp cho ca. Còn khi "rao" đã lâu mà không có người ra hiệu nhận ca, thì gõ song lan bắt nhịp cho độc tấu hay song tấu,...,hòa tấu. Cứ thế, đêm đờn ca diễn ra nhịp nhàng, mạch lạc, tạo nhiều cung bậc cảm xúc cho người biểu diễn lẫn người nghe.
Cải Lương, loại hình nghệ thuật thoát thai từ Đờn Ca Tài Tử cũng phát triển mạnh mẽ từ sau 1954 . Nhiều đoàn, nhiều gánh cải lương được thành lập và lưu diễn không chỉ ở thành thị mà về đến nông thôn. Cơ hội cho rất nhiều thầy đờn, thầy ca thành nghệ sĩ chuyên nghiệp, nổi tiếng thành danh. Chú tôi và học trò đã được một đoàn cải lương mời làm nhạc công và kép hát một thời gian.
Đầu thập niên bảy mươi, khi tôi đủ tuổi để cảm nhận được cái hay cái đẹp của Đàn Ca Tài Tử, thì Đàn Ca Tài Tử không còn là hình thức nghệ thuật vui chơi giải trí độc tôn ở nông thôn nữa, đã vào giai đoạn suy thoái. Tuy thế tôi vẫn đam mê, tìm hiểu, khát khao biết ca, khát khao được tham gia đàn ca như anh em, như cô chú.
Tôi không có giọng, hơi ngắn, âm quãng hẹp, không có năng lực cảm âm. Chú rất vất vả và kiên trì dạy tôi ca. Các anh hàng xóm, thuộc lời ca trong các tuồng cải lương, đến ca với chú, tự thấy sai, tự sửa, rồi ca đúng, ca hay. Còn tôi, chú phải cần mẫn dạy ca từng câu, từng khổ, từng nhịp, từng âm. Chú cho tôi học thuộc lòng bản ( nốt nhạc căn bản), rồi đàn cho tôi nghe . Chú chỉ rõ, đây là Liu, đây là Cống, chỗ này xuống Hò, chỗ này là phải xuống Xề, câu này là nhịp nội, câu sau phải dứt ngoại. Vậy mà tôi luôn ca sai nhịp, lạc giọng và có biệt danh " ca đâm hơi ". Tôi không tự ái, không bỏ cuộc. Chú chọn tập cho tôi một số bài dễ bằng cách cùng ca theo chú nhiều lần. Cuối cùng tôi cũng có được một ít vốn để vui chơi, để thi thố với anh em.
Đặc điểm của âm nhạc Đàn Ca Tài Tử là nhấn nhá, luyến láy, ngân nga,... Do đó, khoảng cách của các phím đờn rộng và sâu, người đờn phải nắn nót , phải rung, phải nhấn , .. mới "tới chữ". Người ca phải có âm quãng rộng, giọng cao và hơi dài . Đờn ca phải "đồng âm tương cảm" , phối hợp nhịp nhàng ăn ý thì mới hay, mới rót vào lòng người .
Tôi ca được 6 câu Vọng Cổ, nhưng mọi người chỉ thấy tôi ca hai câu, câu 5 và câu 6 vì tôi ca câu số 1 không hay. Trong lòng bản, cuối câu một là Cống , nhưng thực chất thì cao hơn Cống, người đờn bấm phím "chữ đờn" này rất nặng, rất sâu và nhấn nhá đến một nhịp rưởi. Giọng tôi cao chỉ tới mức Cống và hơi ngắn không ngân được một nhịp, nên tôi luôn tránh né .
Từ năm 1976, các địa phương thực hiện chính sách trực canh trực cư và hợp tác hóa nông nghiệp. Ruộng đồng lớn, các gia đình khai hoang năm xưa, chính quyền cấp cho người mới đến định cư, xây dựng vùng kinh tế mới hoặc đưa vào tập đoàn sản xuất, hợp tác xã, nông trường. Gia đình và họ hàng chúng tôi không còn ruộng canh tác, đều lâm vào cảnh nghèo đói. Những lần đờn ca tại tại gia đình không còn nữa.
Gia đình chú Năm và bà nội khó khăn hơn hết. Chú đi bán hàng rong và câu lưới để nuôi thân, nuôi con. Càng lúc, càng khánh kiệt, những gia dụng quí giá trong nhà lần lượt ra đi, đến cái tủ thờ cẩn ốc xà cừ bảy màu ông bà để lại cũng không giữ được. Chú không có thời giờ, không có điều kiện và không còn hứng thú đờn ca nữa. Tiếng đàn của chú dần dần chỉ réo rắc một mình hoặc với những người thật tri kỷ
Tôi biết ca và chơi đàn ca vào những năm bao cấp, khó khăn của đất nước. Mọi người tất bậc sinh nhai, ít có thời gian dành cho vui chơi giải trí. Các cuộc đờn ca đình đám không còn như trước đây. Đám tiệc thường được tổ chức đơn giản, nên đờn ca chỉ còn diễn ra trong những dịp lễ, tết và đám cưới.
Những năm ấy, khi có đám cưới, các gia đình không còn thuê máy cúp (máy hát dĩa , loa bông bí ) hát các tuồng cải lương, các bản tân cổ giao duyên, mà mời anh em đàn ca tài tử đến giúp vui. Đời sống của các " tài tử " lúc bấy giờ vô cùng khó khăn, có người cơm không đủ no, nhưng rất nhiệt tình khi có lời mời . Không có thù lao, mua dây đàn và các chi phí cần thiết khác anh em đều tự túc, chia sẻ, có khi phải đi bộ hoặc bơi xuồng bốn năm cây số, vậy mà anh em vẫn sôi nổi, vẫn hân hoan, vẫn hạnh phúc,... như đã làm được điều gì đó có ích cho người, cho mình.
Những năm đổi mới, xây dựng nền kinh tế theo cơ chế thị trường, các hoạt động văn hóa nghệ thuật cũng được thương mại hóa. Đàn ca cổ nhạc có mặt ở các quán xá, nhà hàng, các tụ điểm vui chơi, các khu du lịch, các đám tiệc. Những lần trình diễn đều có thù lao. Các "tài tử" ca hay, đờn giỏi có thể sống được với đam mê bằng đờn ca chuyên nghiệp. Tuy thế, anh em vẫn không quên đàn ca với nhau, vui chơi với nhau,... như bản chất vốn dĩ của Đàn Ca Tài Tử.

 
Đờn ca tài tử Nam Bộ

Từ những năm ấy, tôi đã xa quê, sinh nhai ở các đô thị lớn, tiếp cận với các loại hình nghệ thuật khác, hình thức ca hát khác, nhưng tiếng đàn lời ca của Đờn Ca Tài Tử luôn ầm ĩ trong lòng. Tôi luôn nghêu ngao khi có thể, lúc thì trên tầng cao của công trình xây dựng , lúc thì khi di chuyển trên đường vắng, lúc làm việc gì đó một mình ở nhà,... . Mỗi lần thấy cây đàn kìm, cây ghita phím lõm,...ở đâu đó, tôi luôn xúc động bồi hồi .
Từ đầu năm 2014, khi được UNESCO vinh danh là di sản văn hóa phi vật thể nhân loại, Đờn Ca Tài Tử có diện mạo mới, sức sống mới. Loại hình nghệ thuật dân gian độc đáo này được sân khấu hóa, có mặt trong các chương trình văn hóa nghệ thuật trong và ngoài nước, xuất hiện trên các phương tiện truyền thông, thành công cụ quảng bá du lịch, phục vụ du khách. Phong trào đờn ca với nhau trong cộng đồng sôi động lại và phát triển mạnh mẽ. Từ các tỉnh thành đến các khu phố, thôn, ấp đều có câu lạc bộ sinh hoạt định kỳ thường xuyên và các chương trình giao lưu phong phú.
Mỗi lần đến các khu du lịch, về thăm quê, dự đám tiệc hay ở khu phố khi nghe thấy có đờn ca, lòng tôi phấn khích vô cùng. Lần nào tôi cũng tham gia cùng anh em. Lắng nghe tiếng đàn lời ca như lắng nghe tình quê, tình người,... trỗi dậy trong tâm thức. Khi thì ca vài câu Vọng Cổ, khi thì một lớp Nam Xuân, một bản Khóc Hoàng Thiên,... mỗi lần như vậy, tôi cảm thấy an yên hơn, lạc quan hơn, thêm yêu quê hương, thêm yêu cuộc sống.
Chú tôi mất trong nghèo khó, chỉ để lại cây đàn ghi ta long phím, thiếu dây và sự tiếc thương, tưởng nhớ của nhiều người. Hằng năm, con cháu và những người được chú dạy đờn, dạy ca luôn tề tựu đêm trước ngày giỗ chú cùng nhau đờn ca để tưởng nhớ và tỏ lòng biết ơn đối với tiền nhân, đối với chú .
Tôi không biết việc làm này còn được mấy lần nữa nên tôi vô cùng cảm kích, trân trọng. Bởi tôi hiểu rằng, tôi có được đời sống tinh thần như hôm nay, biết ca, biết hát, có công cụ để giao lưu, kết nối với mọi người, có khả năng viết lách, sáng tác,.. phần lớn nhờ từ tiếng đàn lời ca của Đàn Ca Tài Tử.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

LỜI NGỎ

  Hội nhóm Quán Chiêu Văn là nơi dành cho những người yêu thích văn chương và viết lách lui tới giao lưu sinh hoạt và chia sẻ cùng nhau về sở thích. Thành viên tự nguyện tham gia, không phân biệt vùng miền, tuổi tác, giới tính, nghề nghiệp và vị trí công tác... Tất cả thành viên đều...

Thăm dò ý kiến

Bạn biết gì về Quán Chiêu Văn?

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây