HUYỀN THOẠI ĐƯỜNG TRÊN SÓNG - Tác giả Trịnh Thị Thu Hương

Thứ tư - 21/10/2020 02:59
Bút ký của tác giả Trịnh Thị Thu Hương:

HUYỀN THOẠI ĐƯỜNG TRÊN SÓNG


Có một con đường kỳ lạ, không ai thấy được hình hài, dáng vóc của nó. Một con đường chưa từng xuất hiện trên bản đồ giao thông. Một con đường có một không hai trên thế giới. Nó được làm nên bằng ánh sao trời, bằng màu lân tinh và con nước thủy triều của biển, và trên hết, bằng máu của những trái tim yêu nước. Con đường không dấu, nơi hoạt động của những con Tàu Không Số. Nghề báo đã cho tôi cơ duyên được tham gia một hành trình đi về phương nam để tìm kiếm dấu vết của con đường ấy, bởi quê hương xứ Thanh của tôi có rất nhiều người con đã hiến dâng tuổi xuân, máu đỏ trên con đường sóng nước biển Đông. Và tôi đã được gặp những người từng là « kiến trúc sư », « công trình sư » làm nên con đường huyền thoại chỉ xuất hiện giữa phong ba bão tố và đạn bom : Đường Hồ Chí Minh trên biển.
Trên chuyến xe mà tôi may mắn có mặt là những con người mái đầu đã bạc và màu áo trắng đặc trưng, họ là những cựu chiến binh ( CCB) Hải quân nhân dân Việt Nam. Hơn nửa thế kỷ trước, họ là những nông phu cần cù chất phác, những ngư phủ ăn sóng nói gió, rồi một ngày, những chàng trai ấy đã rời cuốc cày liềm hái, rời chèo lưới bè mủng, tập hợp lại thành một đội ngũ, lên những con tàu vượt trùng khơi sóng cả Biển Đông theo mệnh lệnh thiêng liêng: Cứu quốc !
Để cung cấp vũ khí, đạn dược cho chiến trường miền Nam chống Mỹ, tháng 7 năm 1959, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã quyết định mở tuyến vận chuyển chi viện chiến lược bằng đường biển vào Nam theo chủ trương chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Từ đây, xuất hiện một Đoàn Tàu Không Số hoạt động trên biển Đông, với nhiệm vụ vận chuyển hàng hóa vào Nam phục vụ kháng chiến. Vì sao gọi là “Tàu Không Số”, mặc dù con tàu nào cũng có số hiệu riêng? Câu hỏi của tôi đã được các CCB trả lời: để đảm bảo bí mật, những con tàu khi vào “ăn hàng” đều không gắn số, còn khi ra đi, tùy theo tình huống có thể gắn những số hiệu khác nhau và treo cờ mỗi nước khác nhau để ngụy trang, tránh sự theo dõi của địch.
Điểm dừng đầu tiên của tôi cùng đoàn CCB Tàu Không Số là bệnh viện – Bảo tàng Đặng Thùy Trâm tại Đức Phổ, Quảng Ngãi. Các CCB trong đoàn kể lại: ngày 29/2/1968, Tàu 43 của Đoàn Tàu Không Số vào vùng biển Quảng Ngãi thì bị địch phát hiện, anh em chiến đấu quyết liệt và phá hủy tàu để đảm bảo bí mật, bơi vào bờ, may mắn được bà con địa phương cứu giúp, đưa vào bệnh xá Đặng Thùy Trâm. Dù anh chị em ở bệnh xá rất thiếu đói, nhưng vẫn chăm nuôi thương binh chu đáo, anh em Tàu 43 được chữa lành, lại vượt Trường Sơn ra Bắc, tiếp tục những chuyến đi mới. Sau này, bác sỹ Đặng Thùy Trâm hi sinh trong một trận càn của địch; cuốn nhật ký của chị được một cựu binh Mỹ giữ lại và sau hàng chục năm mới trả về Việt Nam. Trong nhật ký của mình, Đặng Thùy Trâm đã có những dòng lưu bút thắm thiết nghĩa tình dành cho một chiến sỹ của Tàu 43 là thủy thủ Lưu Công Hào, mà chị xem như một người em trai.
Rời Quảng Ngãi, Đoàn CCB Tàu Không Số vào đất Phú Yên. Chúng tôi gặp Anh hùng LLVT Hồ Đắc Thạnh tại Vũng Rô - một địa danh nổi tiếng của Khu 5 thời kỳ chiến tranh. Cuối năm 1964, Bộ Quốc phòng có chỉ thị nghiên cứu mở thêm bến mới của Tàu Không Số tại đây. Tàu 41 của Thuyền trưởng Hồ Đắc Thạnh đã ba lần cập bến Vũng Rô, chi viện hàng trăm tấn vũ khí, kịp thời giúp quân dân địa phương đánh bại những cuộc càn quét của địch, mở rộng vùng giải phóng ở Phú Yên, Khánh Hòa. Đầu tháng 2/1965, Tàu 143 cập bến giao hàng xong thì bị địch phát hiện. Trong cuộc chiến đấu không cân sức, ta bắt buộc phải đánh bộc phá hủy tàu, hủy hàng và phá vòng vây rút lui. Sự kiện Vũng Rô là một tổn thất lớn của ta, những cũng khiến địch hoang mang khi phát hiện ra sự thâm nhập của Bắc Việt vào Nam bằng đường biển. Chúng tăng cường phong tỏa và lấy cớ để tấn công miền Bắc, hòng ngăn chặn sự tiếp viện.
Từ Phú Yên, chúng tôi vượt qua núi Đá Bia để sang đất Khánh Hòa, thăm gia đình ông Nguyễn Bá Cường và bà Phạm Thị Hường ở huyện Ninh Hòa. Những năm kháng chiến, ông Cường là trạm trưởng trạm xá căn cứ Hòn Hèo, sau làm Bí thư huyện ủy Ninh Hòa; bà Hường là y tá phục vụ tại Bến Ninh Vân, sau là Chủ tịch Hội phụ nữ xã Ninh Diêm. CCB Lê Duy Mai, quê Tĩnh Gia, Thanh Hóa xem đôi vợ chồng này là ân nhân của mình. Cuối tháng 2/1968, Tàu 235 do Thuyền trưởng Phan Vinh chỉ huy, ông Lê Duy Mai là máy trưởng, đã vào Hòn Hèo, Khánh Hòa để trả hàng, nhưng bị địch phát hiện, phải chiến đấu và hủy tàu. Ông Mai là một trong số 6 người còn sống sót sau 13 ngày lang thang trong rừng, may mắn được anh em du kích Bến Ninh Vân tìm ra. Vợ chồng ông Cường, bà Hường đã trực tiếp chăm sóc, chữa lành vết thương cho anh em.
Dưới sự chỉ dẫn của ông Nguyễn Bá Cường, chúng tôi cùng đoàn CCB Tàu Không Số về thăm lại di tích Hòn Hèo, nơi mà 14 đồng đội của họ mãi mãi nằm lại. Tại đây, chúng tôi gặp một vị khách du lịch người Ý, thông qua phiên dịch, ông đã nghe CCB Lê Duy Mai kể về cuộc chiến đấu, hi sinh của Tàu 235. Được nghe nhân chứng sống kể chuyện, và tận mắt chiêm ngưỡng một phần con tàu còn nằm lại trên vách núi Hòn Hèo, vị khách du lịch ngạc nhiên tột độ, và bày tỏ niềm khâm phục đối với những CCB Việt Nam trong chiến tranh. Còn CCB Lê Duy Mai, khi chạm tay vào khối sắt thép vô tri của con tàu, ông đã bật khóc vì cảm tưởng như đây chính là phần xương thịt của đồng đội đã hi sinh.
Rời vùng biển Hòn Hèo tỉnh Khánh Hòa, chúng tôi tiếp tục lên đường về vùng đất phương Nam, tìm về di tích Bến Lộc An thuộc xã Phước Thuận, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Dưới trời xanh mây trắng của vùng đất cửa biển miền Đông, những CCB Tàu Không Số xúc động nghiêng mình bên Đài tưởng niệm được xây dựng khang trang cạnh bờ sông Ray. Họ nhớ những bà con, anh em du kích của Bến đã đồng cam cộng khổ trong những tháng ngày chiến đấu; không ít mồ hôi và máu đã đổ xuống, giúp cho những chuyến tàu vào ra an toàn. Bến Lộc An được mở từ tháng 9/1963, là bước đột phá trong hoạt động của đường Hồ Chí Minh trên biển. Từ đó, địa danh Bến Lộc An đã đi vào lịch sử đoàn Tàu Không Số, là niềm tự hào của quân và dân Bà Rịa - Vũng Tàu trong kháng chiến chống Mỹ. Tại đây đã có 3 chuyến tàu đưa 100 tấn vũ khí vào miền Đông thành công. Đặc biệt, chuyến đi của Tàu 56 vào Bà Rịa tháng 11/1964, đã kịp thời cung cấp vũ khí cho chiến dịch Bình Giã, góp phần giải phóng một vùng rộng lớn phía Đông Bắc Sài Gòn.
Rời di tích Bến Lộc An, chúng tôi tiếp tục hành trình trên “miền đất đỏ” trung dũng, kiên cường. Gia đình ông Lê Hà ở thị trấn Phước Hải, huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã đón chúng tôi rất hồ hởi. Ba ông Hà là Lê Văn Riều, má là Nguyễn Thị Mười cùng tham gia cách mạng từ thời chống Pháp. Trong kháng chiến chống Mỹ, ông Hà cùng ba má và một người em trai hoạt động tại Bến Lộc An. Ba hi sinh từ năm 1970, Má cũng đã là người thiên cổ, nhưng chuyện về gia đình Má Mười Riều với những hành động đầy nghĩa khí dành cho cách mạng, vẫn được nhân dân địa phương và đặc biệt là những cựu chiến binh Tàu Không Số ghi nhớ, tri ân. Vào tháng 2/1962, tỉnh Bà Rịa phân công cho Đơn vị 555 tổ chức mua tàu để ra Bắc xin vũ khí. Không may, người đi mua tàu bị phục kích, toàn bộ số tiền bị mất. Má Mười Riều lập tức hiến 10 cây vàng của gia đình, tự mình đi mua tàu về bất chấp địch kiểm soát gắt gao. Tổ chức phân công con trai Má là ông Lê Hà làm đội phó đội tàu tỉnh Bà Rịa, ra Bắc xin trung ương tiếp vận vũ khí cho miền Nam.
CCB Lê Hà dẫn chúng tôi đến thăm Anh hùng LLVT Nguyễn Sơn, cũng sinh sống tại thị trấn Phước Hải. Phong thái bình dị, mộc mạc đúng chất người dân miền đất đỏ, người anh hùng - thuyền trưởng của Đoàn Tàu Không Số năm xưa ôm chặt những người đồng đội của mình sau hàng chục năm xa cách. Năm 1962, ông Nguyễn Sơn là xã đội trưởng xã Phước Hải – đội trưởng của đội tàu tỉnh Bà Rịa, đã cùng ông Lê Hà vượt biển bằng con tàu Má Mười Riều mua. Anh hùng Nguyễn Sơn đã trực tiếp tham gia 23 chuyến tàu chở vũ khí vào Nam. Ông còn làm nhiệm vụ đặc biệt chở các đồng chí Võ Văn Kiệt, Lê Đức Anh ra Bắc vào tháng 11 năm 1973. Đối mặt với biết bao nguy nan, nhiều lần đứng giữa lằn ranh sinh - tử, ông cùng đồng đội đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình.
Rời Bà Rịa – Vũng Tàu, chúng tôi đi qua những rừng dừa bát ngát của Bến Tre, và dừng chân trên vùng căn cứ cách mạng Thạnh Phong, huyện Thạnh Phú. Đây là vùng đất từng nếm trải nhiều đau thương trong những cuộc càn quét đẫm máu của giặc ở cả hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ. Từ Cồn Lợi, xã Thạnh Phong, cuối tháng 3 năm 1946, đoàn đại biểu Khu 8 do bà Nguyễn Thị Định đứng đầu đã vượt biển ra Bắc để báo cáo với Trung ương Đảng và Bác Hồ về tình hình kháng chiến ở Nam Bộ, sau đó đã đưa về Bến Tre một chuyến tàu đầy vũ khí. Chuyến đi thành công mang ý nghĩa mở đường, là tiền đề quan trọng để sau này trong chiến tranh chống Mỹ, TW đảng quyết định mở con đường tiếp vận Bắc – Nam trên biển. Năm 1961, đoàn đại biểu tỉnh Bến Tre tiếp tục tổ chức một chuyến đi từ Cồn Lợi ra Hà Nội báo cáo với Trung ương về phong trào Đồng khởi, đề xuất nhu cầu của chiến trường để Trung ương nghiên cứu, giải quyết. Từ năm 1946 đến năm 1970, đã có trên 20 chuyến tàu, chở hàng ngàn tấn vũ khí từ hậu phương miền Bắc chi viện cho chiến trường miền Nam cập bến Cồn Bửng, Cồn Lợi, Vàm Khâu Băng, Cồn Lớn của căn cứ Thạnh Phong, rồi được chuyển tiếp đến các chiến trường miền Đông và Tây Nam bộ. Năm 1995, khu di tích Đầu cầu tiếp nhận vũ khí Bắc - Nam ở xã Thạnh Phong được công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia. Xã Thạnh Phong cũng đã được Nhà nước tuyên dương là đơn vị Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân.
Ở mỗi điểm dừng chân, chúng tôi lại được gặp gỡ những con người đặc biệt, họ là những “pho sử sống” của Đoàn Tàu Không Số, từng trang đời oanh liệt mà họ trải qua cũng chính là những trang sử hào hùng của dân tộc. Anh hùng LLVT Nguyễn Văn Đức - người con ưu tú của quê hương Thạnh Phong - là một người như vậy. Ông đã tham gia 14 chuyến đi đưa vũ khí từ Bắc vào Nam an toàn. Và từ ông, chúng tôi biết thêm một quá khứ đau thương của chiến tranh, đó là chuyện về ngôi mộ tập thể 21 người ở xã Thạnh Phong. Đầu năm 1964, khi ông Nguyễn Văn Đức đang thực hiện nhiệm vụ đưa những con tàu chở vũ khí vào Nam, thì ở quê nhà, địch mở một trận càn kéo dài 21 ngày. Chúng ném bom napal trúng một căn hầm, thiêu cháy 19 người trong đó có 2 phụ nữ đang mang thai, tổng cộng là 21 sinh linh thiệt mạng. Gia đình ông Đức có tới 7 người chết trong căn hầm đó, gồm mẹ, hai em, hai cháu, chị gái và bào thai trong bụng chị... Ngôi mộ chung cho cả 21 người được xây trên chính căn hầm mà họ đã bị bom Mỹ vùi, trở thành chứng tích đau thương của cuộc chiến tàn khốc mà quân xâm lược gây ra. Năm 1969, tại Khâu Băng ( ấp Thạnh Hòa, xã Thạnh Phong), lực lượng biệt kích của Mỹ lại tiếp tục giết hại 21 thường dân bao gồm người già, phụ nữ, trẻ em, và rêu rao là đã giết nhiều Việt Cộng tiếp nhận vũ khí từ Tàu Không Số. Con số 21 oan nghiệt đã chan lên mảnh đất này biết bao nước mắt, và thổi bùng lên nỗi căm hận ngút trời. Máu đổ không làm người Bến Tre sợ hãi, mà trái lại, càng trở nên kiên cường hơn; ông Đức vẫn tiếp tục những hành trình trên Tàu Không Số, vì ông biết chỉ còn một con đường duy nhất là chiến đấu đến cùng để giành chiến thắng!

 


Rời Bến Tre, đoàn CCB Tàu Không Số tiếp tục tới thăm Cần Thơ, vùng đất được gọi là thủ phủ của miền Tây Nam Bộ. Tại đây có nhiều CCB Tàu Không Số đang sinh sống, trong đó có những người quê Thanh Hóa. Khi cùng các CCB hải quân từ Thanh Hóa vào đây, chúng tôi thường nghe họ nhắc tên những đồng đội như bác Năm Châu, bác Ba Đáng, chú Phùng Văn Quý, chú Đặng Đình Bàn..., họ là những người sinh ra từ miền biển Tĩnh Gia, Quảng Xương của Thanh Hóa. Trong chuyến đi này, chúng tôi may mắn được gặp gỡ những CCB ấy, và nhờ đó biết thêm khá nhiều chuyện chiến đấu thú vị của Đoàn Tàu Không Số trên con đường sóng nước biển Đông. Thời ấy, những con tàu Không Số nhỏ bé, thô sơ, không hề có trang thiết bị và hệ thống thông tin liên lạc hiện đại như bây giờ, nhưng vẫn can trường dũng cảm vượt qua hàng ngàn hải lý trong bão tố, đạn bom, mới thấy hết sức mạnh kỳ diệu của lòng yêu nước đã làm nên những sáng tạo vô song trong chiến đấu.
Rời Cần Thơ, chúng tôi tiếp tục lên đường, tìm đến địa danh Gành Hào, khu vực cửa biển tiếp giáp giữa hai tỉnh Bạc Liêu và Cà Mau. Nơi đây, năm 1970, CCB Phạm Văn Bát quê Thái Bình và CCB Vũ Trung Tính quê Thanh Hóa cùng có mặt trên chuyến đi lịch sử của Tàu 154; ông Bát là Chính trị viên, ông Tính là Thuyền phó hàng hải. Họ đã điều khiển con tàu đi vòng qua hải phận 4 nước Đông Nam Á để tránh địch theo dõi, vào bến trả hàng giữa ban ngày, ngay tại vị trí khá hiểm yếu chỉ cách đồn địch chưa đầy 1 km, mà vẫn rút ra an toàn. Chuyến đi này đã ghi thêm một kỳ tích cho Đoàn Tàu Không Số.
Từ Gành Hào, chúng tôi đến Thành phố Cà Mau và được các CCB của đoàn 962 tiếp đón nồng hậu. Đoàn 962 đóng tại Cà Mau, có nhiệm vụ tổ chức các bến bãi, làm hoa tiêu đón tàu vào, nhận và cất giấu, vận chuyển vũ khí vào sâu đất liền. Các CCB đoàn 962 dẫn chúng tôi về thăm Di tích bến Vàm Lũng, thuộc huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau. Vàm Lũng là bến cuối cùng của Đường Hồ Chí Minh trên biển. Nơi đây, ngày 16/10/1962, chiếc tàu đầu tiên của Đoàn Tàu Không Số mang tên “Phương Đông 1” do thuyền trưởng Lê Văn Một và chính trị viên Bông Văn Dĩa chỉ huy đã chở 35 tấn vũ khí từ miền Bắc vào cập bến an toàn, khai thông con đường vận tải chiến lược trên biển Đông. Tính từ chuyến tàu đầu tiên (Phương Đông I ) vào bến Vàm Lũng ngày 16/10/1962 đến chuyến tàu cuối cùng (69B) vào bến Vàm Hố ngày 5/4/1071, các cụm bến thuộc Đoàn 962 quản lý đã tiếp nhận 124 chuyến tàu, với 6613 tấn vũ khí. Cà Mau là nơi đón nhiều tàu nhất, cũng là nơi hi sinh đổ máu nhiều nhất trong toàn tuyến bến bãi đón Tàu Không Số ở miền Nam.
Chiếc vỏ lãi, phương tiện giao thông quen thuộc của vùng sông nước Cà Mau tiếp tục đưa đoàn chúng tôi đến thăm các di tích Tàu Không Số ở huyện Ngọc Hiển. Chiếc vỏ lãi lao vun vút khiến tôi liên tưởng tới những con tàu Không Số năm xưa trong lời thơ của một đồng nghiệp, phóng viên Lê Anh Phong – đài PTTH Quảng Bình: “Tàu Không Số băng qua thời đạn lửa/Vạch con đường xuyên Việt giữa Biển Đông/Tàu Không Số đã ghi vào lịch sử/Biểu tượng khiêm nhường của kỳ tích, chiến công!”

 
Tập tin:Mui Ca Mau 005.JPG – Wikipedia tiếng Việt


Ngọc Hiển là huyện cực Nam của Tổ quốc, có 3 mặt giáp biển nên giống như một cù lao. Ðoàn 962 được thành lập tại đây vào ngày 19/9/1962, có nhiệm vụ bảo vệ an toàn cho các chuyến tàu vào ra, bí mật tiếp nhận, cất giấu và vận chuyển vũ khí đến các đơn vị quân giải phóng. Ðoàn 962, sau này là Trung đoàn 962 đã 2 lần được Nhà nước phong tặng danh hiệu “Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân”. Vàm Lũng là một trong những “bến cảng giữa rừng”, hoạt động dưới sự quản lý của cán bộ chiến sỹ đoàn 962. Nhờ sự đùm bọc, che chở của nhân dân như “luỹ sắt, thành đồng”, trong hơn 10 năm hoạt động (1962-1972) các cơ sở hoạt động của ta đã được bảo vệ an toàn, mặc dù nơi đây nằm không xa chi khu quân sự của địch ở Năm Căn; đã có 77 chuyến tàu cập bến Vàm Lũng thành công, cung cấp hàng ngàn tấn vũ khí đạn dược phục vụ chiến trường miền Nam.
Chúng tôi cùng các CCB Tàu Không Số đã đến xã Tân Ân để dâng hương cho Anh hùng LLVTND Bông Văn Dĩa, người con của rừng đước Cà Mau đã đi xuyên qua hai cuộc kháng chiến với những chiến công hiển hách. Ông tham gia khởi nghĩa Nam Kỳ từ năm 1940, bị thực dân Pháp kết án khổ sai đày đi Côn Đảo, Cách mạng Tháng Tám thành công mới được trở về. Trong kháng chiến chống Pháp, ông đã tổ chức 2 lần ra nước ngoài mua 16 tấn vũ khí cung cấp cho chiến trường Nam Bộ. Thời chống Mỹ, ông cũng là một trong những người đầu tiên khai phá đường Hồ Chí Minh trên biển, đưa vũ khí từ Bắc vào Nam. Năm 1967 ông được phong danh hiệu Anh hùng LLVTND, năm 2012, huyện Ngọc Hiển đã xây dựng Nhà tưởng niệm trên quê hương ông.
Tại xã Tân Ân, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau còn có một vị chỉ huy mưu lược, dũng cảm của Đoàn Tàu Không Số, người mà trên suốt chặng đường đi, CCB Vũ Trung Tính luôn nhắc đến. Đó là Thuyền trưởng - AHLLVT Nguyễn Văn Cứng. Tiếc rằng anh hùng Nguyễn Văn Cứng đã về với tiên tổ từ năm 1995. Ông Tính vẫn nhớ như in chuyến đi tái mở đường sau sự kiện Vũng Rô, 8 tháng trời địch kiềm tỏa gắt gao, không có chuyến tàu nào vào Nam trót lọt, tháng 10/1965, thuyền trưởng Nguyễn Văn Cứng đã chỉ huy Tàu 42 mang 60 tấn vũ khí vào rạch Kiến Vàng (Cà Mau) thành công. Thủy thủ đoàn 16 người, trong đó có ông Vũ Trung Tính, đã trải qua nhiều cuộc đấu trí cam go với kẻ địch trên hành trình này. Khi tàu và máy bay địch áp sát, anh em nghĩ ra một kế: cử thủy thủ Lưu Đình Lừng có cái mũi cao, đóng giả người “Tây” ra boong tàu vẫy chào, ném chuối lên trêu chọc địch vẻ thân thiện để tránh sự nghi ngờ của chúng. Theo dõi một lúc, địch bỏ đi. Sau đó tàu 42 phải đi vòng qua 5 nước để trở về an toàn. Câu chuyện chiến sỹ hải quân Bắc Việt đóng giả “Tây” để đánh lừa địch quả là “có một không hai” trong lịch sử quân sự Việt Nam.
Chúng tôi đã băng qua những cung đường thênh thang nối dài từ đất liền ra biển, từ miền Đông đến miền Tây Nam bộ, rồi lướt trên những dòng kênh để ngắm nhìn rừng đước xanh tươi dưới ánh mặt trời. Là người may mắn được trải nghiệm nhiều cung bậc cảm xúc, ghi nhận nhiều câu chuyện trên hành trình cùng các bác CCB Tàu Không Số, tôi đã được học những bài học lịch sử vô cùng sống động, chân thực, để thấu hiểu hơn, vì sao Việt Nam, một dân tộc nhỏ bé, lại có thể đánh thắng những tên Đế quôc sừng sỏ nhất thế giới. Là chính bởi vì có những nông phu, ngư phủ bình dị giữa đời thường, khi Tổ quốc cần, đã hóa thân thành những anh hùng! Họ đã làm nên một “huyền thoại đường trên sóng” trong lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc./.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

LỜI NGỎ

  Hội nhóm Quán Chiêu Văn là nơi dành cho những người yêu thích văn chương và viết lách lui tới giao lưu sinh hoạt và chia sẻ cùng nhau về sở thích. Thành viên tự nguyện tham gia, không phân biệt vùng miền, tuổi tác, giới tính, nghề nghiệp và vị trí công tác... Tất cả thành viên đều...

Thăm dò ý kiến

Bạn biết gì về Quán Chiêu Văn?

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây