LONG SƠN - "CON RỒNG XANH" TRÊN BIỂN - Tác giả Quốc Việt

Thứ năm - 22/10/2020 03:34

Bút ký của Quốc Việt: 
LONG SƠN - "CON RỒNG XANH" TRÊN BIỂN.


Năm 2006, gia đình tôi chuyển về huyện Tân Thành ( nay là thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) sinh sống. Ngót nghét cũng đã 14 năm và số lần tôi đặt chân lên mảnh đất Long Sơn không thể nào nhớ hết được, vì từ nhà tôi sang đó chưa đầy mười cây số. Đó có thể là những lần sang uống cà phê, vui cùng bạn dưới bè hàu hay đơn giản là tôi chọn con đường băng ngang qua xã đảo này để xuống nội ô thành phố Vũng Tàu. Bây giờ thì mọi thứ đã gần như quen thuộc với tôi, không còn những bỡ ngỡ, lạ lẫm xen lẫn ngạc nhiên như lần đầu đặt chân đến đảo này; nơi được ví như " con rồng xanh" trên biển.
1. Long Sơn một thuở hoang sơ
Long Sơn với diện tích hơn 92 km vuông, là xã ngoại ô duy nhất của thành phố Vũng Tàu; cách trung tâm thành phố chừng 13km. Long Sơn được bao bọc bởi núi Nứa, sông Chà Và, sông Dinh và biển. Xã Long Sơn gồm một hòn đảo chính là đảo Long Sơn nằm men theo triền núi Nứa, đoạn cuối của dãy núi Phước Hòa đâm ra biển và đảo nhỏ có tên gọi Gò Găng. Cũng chính vì phần đa dân cư của xã đều sống trên đảo Long Sơn nên khi nhắc đến xã Long Sơn người ta thường đánh đồng nó với đảo Long Sơn. Sở dĩ có tên gọi Long Sơn là do hình dáng nhìn từ xa giống như một "con rồng xanh" khổng lồ đang phơi mình trên biển
Theo tài liệu ghi chép, lúc bấy giờ Long Sơn là vùng đất còn hoang vu với đầy thú dữ, rừng rậm cùng những điều kiện sống khắc nghiệt khác như: thiếu nước ngọt, đất bằng lầy lội, đất núi khô cằn,... Năm 1900 để tránh sự truy thuế và dồn ép của nhà cầm quyền Pháp, ông Lê Văn Mưu ( 1855-1935, người làng Thiên Khánh, tổng Thanh Hà, quận Giang Thành, tỉnh Hà Tiên; nay là xã Tân Khánh Hòa, huyện Giang Thành, tỉnh Kiên Giang) cùng với gia quyến và những người đi theo dùng ghe đến khu vực đông nam đảo Long Sơn để khai phá đất hoang làm ruộng muối, trồng lúa và đánh bắt thủy hải sản. Thấy công việc làm ăn thuận lợi, để an cư lâu dài, ông Trần xin phép nhà cầm quyền qui dân lập ấp dần dần hình thành ấp Bà Trao, làng Núi Nứa và sau này là xã Long Sơn.
Trước năm 1997, Long Sơn hoàn toàn biệt lập so với phần còn lại của đất liền. Xã đảo tuy thuộc thành phố Vũng Tàu, một thành phố nhộn nhịp và sầm uất nhưng lại mang trong mình 3 không; không điện, không nước và không đường nhựa. Người dân trên xã đảo muốn sang Tân Thành hay Vũng Tàu thì chỉ có con đường duy nhất là dùng ghe.
Trong một lần tôi có dịp được ngồi cùng với ông Sáu, một người đã gắn bó cả đời mình với hòn đảo này kể lại:
"Long Sơn trước chỉ mần ruộng với muối chứ chưa nuôi bè. Khổ tứ bề. Cả đảo vào mùa khô chỉ có giếng gần hồ Mang Cá là có nước. Phải đi từ khuya mà xếp hàng chờ. Cứ đánh nhau dành nước miết hà".
Nói rồi ông Sáu cất giọng cười sảng khoái, đặc trưng của con người gốc miền Tây nam bộ để nhớ về thuở trần ai gánh nước của mình. Người dân gốc miền Tây vốn vậy, dù sống ở đâu thì vẫn mang dòng máu hào sảng trong mình. Có thể đánh nhau chí chóe nhưng ít người để bụng. Hôm sau gặp lại vẫn cứ cười xòa.
Nhấp ngụm nước trà, ông Sáu khề khà kể tiếp khi thấy tôi tò mò:
" Nhưng mà lấy nước cũng chưa bằng đàn bà đau đẻ. Đau bụng mà chờ chèo ghe qua bển( Vũng Tàu) có khi đẻ trên ghe rồi. Hồi đó, đêm ngồi dòm Vũng Tàu mà chỉ ước Long Sơn mình cũng có cầu, có điện, có nước như ở bển”
Tôi ngồi lắng nghe mà hình dung lại câu chuyện ông vừa kể. Bởi khi đặt chân đến đây thì cầu Bà Nanh (khánh thành 1997) nối Long Sơn với xã Tân Hải (huyện Tân Thành, nay là thị xã Phú Mỹ ) đã có rồi. Sau này, lần lượt khánh thành cầu Gò Găng (2008), Chà Và (2011) nối Long Sơn với phường 12 (thành phố Vũng Tàu) thì giao thông hoàn toàn được thông suốt, thuận tiện. Và bây giờ không chỉ có cầu, có điện, có nước mà Long Sơn còn thay da đổi thịt từng ngày
2.Đạo Ông Trần, Nhà Lớn và những điều giản dị nhưng thắm nghĩa tình
Còn nhớ lần đầu tiên tôi đặt chân đến Long Sơn là đầu năm 2008, khi được bạn mời sang đó ăn gà nướng. Mặc dù bây giờ khi nhắc đến Long Sơn người ta sẽ nghĩ ngay đến hàu biển, cá lồng, tôm hùm,...nhiều hơn. Ấn tượng đầu tiên của tôi về Long Sơn khi vượt qua cầu Bà Nanh là ngọn núi áng ngữ ngay trước mặt con đường, trước khi chia làm hai hướng mà sau này tôi mới biết dẫn tới Bến Đá, Bến Đình. Ngồi nhâm nhi vài ly với bạn, mắt tôi lại tò mò nhìn về phía bàn bên cạnh khi có vài người mặc quần áo bà ba đen, tóc búi lên cao nhìn rất lạ. Bạn nhìn tôi cười mà nói nhỏ:
“Đạo Ông Trần đó”
Tôi ngạc nhiên nhìn bạn hỏi lại:
“Đạo gì mà nghe lạ quá?”
“Tôi cũng chỉ biết sơ sơ. Nếu ông muốn biết rõ thì cứ việc đi thêm một đoạn xuống Nhà Lớn mà tìm hiểu”.
Thời điểm đó bạn tôi mới được điều về làm việc ở Đồn biên phòng Long Sơn được vài tháng, không rành cũng phải. Đó là lần đầu tiên tôi nghe về cái tên “Đạo Ông Trần”. Trong khi những gì tôi từng biết trước đó về tôn giáo chỉ có; đạo Phật, đạo Thiên Chúa, đạo Tin Lành, đạo Cao Đài,…và chính điều này đã thôi thúc tôi cất công tìm hiểu.
Đạo Ông Trần do ông Lê Văn Mưu khai sáng từ nền tảng của đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa của thầy mình là giáo chủ Ngô Lợi kể từ khi lập ấp ở Long Sơn. Tên gọi “đạo Ông Trần” cũng bắt nguồn từ cách người dân Long Sơn dùng để gọi ông. Thuở ấy, ông thường cởi trần, tóc búi tó, đi chân đất, lao động suốt ngày nên người dân vì kính trọng không gọi tên thật mà gọi ông là Ông Trần. Đạo Ông Trần chú trọng phát triển Phật giáo (có xen lẫn Nho, Lão và thờ cúng tổ tiên) theo hình thức cư sĩ, tín đồ không cần “ly gia cắt ái”, mặc quần áo bà ba màu đen ( hoặc sẫm), tóc búi cao (hoặc để xõa),...và tu đâu cũng được. Đạo Ông Trần chủ trương không lập chùa miễu, không kinh kệ chuông mõ, không ép buộc ăn chay và cũng không dung túng mê tín dị đoan; chỉ chú tâm nhiều đến việc thờ cúng, bố thí và “tu nhân” để hành đạo như lời các cụ cao niên ở Long Sơn:
“Đạo Ông Trần chỉ là đạo làm người. Ngày xưa, Ông Trần dạy nhân, nghĩa, trí, tín, trung, hiếu,…và cứ như vậy truyền đời”
Điểm đặc biệt của đạo Ông Trần là bài trừ tệ mê tín dị đoan, không coi ngày giờ. Nếu như đám cưới chỉ chọn trong hai ngày mùng một, mười sáu âm lịch và giờ hành lễ là giờ Thìn thì đám tang lại được tổ chức trong vòng 24 giờ sau khi người chết qua đời, không tụng kinh, ít tiếng khóc và dùng chung một cỗ áo quan theo triết lý của Ông Trần “Sống đồng tịch đồng sàng, thác đồng quan đồng quách”.
Theo đó, một gia đình có báo tang thì hàng xóm xung quanh liền cùng nhau giúp đỡ. Người lo khăn áo, kẻ thỉnh “bao quan dùng chung” để về khâm liệm thi hài. Khi đến mộ phần thì người chết được quấn vào trong chiếc chiếu cói chôn xuống đất, còn áo quan thì đưa về lại Nhà Lớn.
Theo như lời dì ba Kiềm, đã ngoài bảy mươi tuổi, đảm nhận việc trông coi trong Nhà Lớn cho biết:
“ Xưa Ông dạy “sáng tử chiều táng, chiều tử sáng táng” nêm đám xác thường nhanh gọn, không coi ngày giờ cũng không quàn thi hài quá lâu như những nơi khác. Việc dùng chung bao quan mang ý nghĩa sâu xa là không phân biệt người sang, kẻ hèn, quan có quyền chức hay không đều bình đẳng như nhau "
Nó khác xa hoàn toàn với những đám tang được tổ chức rình rang, kèn trống linh đình, tiền tung tứ phía mà tôi vẫn thường nhìn thấy. Một cách thực hành tiết kiệm, tư tưởng tiến bộ và đạo "tu nhân" đã có từ hàng trăm năm trước được lưu truyền cho đến tận ngày nay.
Trở lại với Nhà Lớn, một quần thể kiến trúc bằng gỗ và tre nứa rộng hơn hai hecta chia làm ba khu riêng biệt: Khu nhà thờ, khu lăng mộ Ông Trần và khu nhà chức năng (nhà hội, trường học, nhà chợ, chợ, nhà bảo tồn Ghe Sấm,..) được Ông Trần xây dựng từ năm 1910 đến năm 1929 bằng tiền của ông cũng như sự đóng góp của bá tánh. Sau này khi ông Trần mất và được đưa vào thờ cúng trong Nhà Lớn nên còn có tên gọi khác là Đền Ông Trần (Quần thể kiến trúc Nhà Lớn được bộ Văn hóa-Thông tin công nhận là di tích Lịch sử- Văn hóa cấp quốc gia theo quyết định số 1371/QĐ-VH ngày 03/08/1991) .Tôi được biết về những điều đơn giản nhưng thắm nghĩa, giàu tình.
Đó là kho lúa trong Nhà Lớn, dùng cho việc đón khách cũng như phát gạo cho bà con xã đảo như một tập quán sẻ chia từ bao đời mà ông Trần truyền lại. Dì ba Kiềm nở nụ cười đôn hậu nói:
“Ở Long Sơn, người nghèo không sợ thiếu ăn. Nghèo nhiều thì phát hàng tháng, nghèo ít thì nửa năm”.
Tôi hỏi dì ba:
“Nhưng mà lúa gạo này ở đâu ra vậy dì?”
“Của bá tánh miệt miền Tây đưa lên. Năm nào thu hoạch xong thì ghe tàu lại chở lúa gạo lên cho Nhà Lớn đặng lo cơm nước cho bá tánh về đây tham quan, kỉnh ông”
Sau này tôi được biết nguyên nhân việc đưa lúa gạo về Nhà Lớn bắt nguồn từ việc ông Trần mở kho gạo, đưa về cứu đói người dân ở xứ Gò Công và nhiều vùng phụ cận trong trận bão lụt năm Giáp Thìn (1904) mà cụ Huỳnh Ngọc Liêng đã cảm tác thành thơ:
“Rương xe, thùng bộng, mái lơn
Thuyền chài, cối giã, chạy bôn trên đồng
Xác người, xác thú chập chồng
Sóng dồi rều dập, vun giồng lấp khe”
Như là cách trả ơn Ông Trần ngày đó đã từng cưu mang tổ tiên mình và hẳn đúng theo câu nói “ Cho đi là còn lại mãi mãi”.
Đó là tục viết liễn lễ vía Ông (20 tháng 2 âm lịch), lễ Trùng Cửu( 9 tháng 9 âm lịch) , Tết Nguyên đán mà ông Trần đã truyền dạy cách đây hơn trăm năm về nhân, lễ, nghĩa, trí, tín,...ở đời; cách đối nhân xử thế, giữ gìn điều nhẫn hòa...được lưu truyền từ đời này sang đời khác như cách để răng dạy con cháu sống đúng "đạo làm người".
Và sẽ thật thiếu sót nếu không nói tới người dân nơi đây. Những con tuy sống miền Đông nhưng vẫn giữ cốt cách và tâm hồn của người miền Tây hào sảng và suề xòa. Chỉ cần ngồi lại một quán nước vỉa hè ở Long Sơn sẽ dễ dàng nhìn thấy các cụ ông, cụ bà hay những người trẻ bên ly cà phê chuyện trò rôm rã. Người miền Tây ở đâu cũng vậy, dù nam nữ thì đều có thói quen thích uống cà phê.
Đôi lần có việc sang đó một mình, tôi thường ngồi trong quán cà phê bên cạnh Đền thờ liệt sĩ xã Long Sơn bây giờ. Chưa kịp nhấp ngụm cà phê đã nghe ai đó hỏi:
“Chú ở đâu qua đây ?”
"Dạ bên Hải Sơn".
Hình như chỉ đợi tôi trả lời như vậy thì bao nhiêu chuyện về chỗ tôi đang ở, quen ai ở đó,...lại tuông ra. Thân tựa hồ như đã biết nhau từ lâu lắm dù tôi chỉ mới bước chân vào đây hơn mười phút đồng hồ. Phóng khoáng và cởi mở hệt như câu ca:
" Ra đi gặp vịt cũng lùa
Gặp duyên cũng kết, gặp chùa cũng tu"
Thích gì chơi nấy, sống cởi mở và hết mình. Dù một người lạ hoắc như tôi cũng dễ dàng đẩy đưa câu chuyện, thậm chí mời ly rượu đế nếu là đang nhậu.

 
mot ngay choi da, an ngon tai dao hau long son - anh 8
Ảnh: internet

3. Long Sơn từng bước chuyển mình
Từ quốc lộ 51, đến ngã ba Long Sơn (xã Tân Hải) rẽ vào đường Hoàng Sa mà tôi hay gọi vui là “đường mắm thối” (do các công ty chế biến thủy hải sản trên đoạn đường này gây ra) chừng vài cây số hay theo đường Trường Sa nằm ở phường 12 ngược lên sẽ thấy; Long Sơn hôm nay không chỉ có những cánh đồng muối với màu trắng xóa hay những ruộng lúa như thuở hôm nào. Những chiếc lồng bè ken đặc trên sông mà người ta hay gọi "phố làng hàu” minh chứng cho sự chuyển mình của Long Sơn. Để mỗi lần du khách ở xa có dịp ghé qua Long Sơn nói riêng, Bà Rịa-Vũng Tàu nói chung đều muốn tới làng bè để thưởng thức tôm, cá, và đặc biệt là hàu.
Ông Sáu kể cho tôi nghe:
“Người đầu tiên nuôi hàu ở Long Sơn là ông Phúc bên thôn 6. Thấy ổng mần chơi, ăn thật nên nhiều người học theo”.
Tôi thắc mắc:
“Làm chơi ăn thật là sao ông Sáu?”
“Con hàu chỉ cần ném lồng xuống là nó tự sống, tự lớn, hỏng cần phải tốn công chăm sóc”
Tôi biết đó là cách nói của ông Sáu chứ cũng không dễ dàng gì nếu như không có kinh nghiệm về độ mặn, dòng nước xiết hay nguồn nước. Lại nghĩ đến những lần “cá phơi bụng, hàu há mỏ” trên sông vào năm 2015, 2018 2019 do ô nhiễm mà người dân Long Sơn thậm chí đem ra ngoài quốc lộ để phản đối thì hiểu rằng mọi thứ đều kèm theo rủi ro, thậm chí là mất trắng.
Nhưng không vì thế mà phủ nhận sự thay đổi của hòn đảo này. Những mái nhà lụp sụp thuở tôi mới sang được thay thế bằng những ngôi nhà khang trang bề thế. Ngoài con Trường Sa, Hoàng Sa nối Long Sơn với quốc lộ 51 thì những con đường còn lại trên đảo cũng được thảm nhựa, bê tông phẳng lỳ. Và nhất là từ khi Thủ tướng ra quyết định số 841/TTg-KTN ngày 02/06/2008 về việc thành lập Khu công nghiệp dầu khí Long Sơn rộng 1250ha gồm: Nhà máy lọc dầu số 3 (810ha) và kho ngầm chứa chứa xăng dầu (40ha) cùng các khu phụ trợ...thì Long Sơn lại càng có nhiều thay đổi. Giá đất cũng theo đó mà tăng lên từng ngày. Ông Sáu khoe với tôi:
“Miếng đất của tui ngay hồ Mang Cá người ta trả 6 tỷ rồi mà tui chưa bán”
Ông mừng vì theo ông miếng đất đó ngày xưa cũng không làm được gì mà giờ tự nhiên lại có giá nhưng vậy. Mà không chỉ mình ông Sáu, còn rất nhiều người khác “bỗng dưng thành tỷ phú” nhờ ăn theo dự án này.
4. Còn đây những nỗi niềm riêng:
Vui đó, mừng đó nhưng tôi lại thấy ông Sáu thở dài. Tôi buộc miệng hỏi:
“Sắp thành tỷ phủ mà còn thở dài ông Sáu?’
Ông Sáu không nhìn tôi mà nhìn vào ly cà phê đáp với giọng pha chút buồn:
“Có tiền ai hỏng dui ha chú. Nhưng dân Long Sơn xưa giờ không mần muối, nuôi hàu thì cũng đi te, giã cào. Mai mốt đất hết, sông bồi thì mần gì?”
Tôi hiểu trăn trở của ông Sáu khi người dân Long Sơn bao đời gắn với nghề nông thì bước chuyển mình để trở thành khu công nghiệp hiện đại, trên bến dưới thuyền tấp nập,…sẽ có mấy người thích ứng kịp với cuộc sống đó. Và cũng mấy người còn lưu giữ nét đẹp văn hóa của vùng đất này khi điều kiện sống đã khác, chỗ ở đổi thay và dân tứ xứ đổ về. Nhà Lớn có còn là điểm hẹn của khách thập phương dịp lễ vía ông Trần hay lễ Trùng Cửu. Mà không chỉ ông Sáu, dì ba Kiềm, chú Út,...mà tất cả người dân Long Sơn đều chung đều chung một nỗi niềm
Biết làm sao được. Giữa cái “được-mất” giằng co giữa miền quê mộc mạc và đô thị văn minh thì cuối cùng người dân Long Sơn vẫn phải lựa chọn. Biết làm sao được. Không chỉ người dân trên đảo Long Sơn mà hàn triệu nông dân khác vẫn muốn cuộc sống tốt lên, văn minh hiện đại.
Chỉ mong sao những phong tục, nếp sống văn hóa dân gian vẫn còn đọng mãi trong tâm thức người dân Long sơn dẫu rằng “con rồng xanh” đã chuyển mình để chuẩn bị bay lên, vươn lên một tầm cao mới. Và Long Sơn vẫn là một điểm đến để tôi có thể nhìn thấy nét mộc mạc, dân dã, hào sảng của những con người đậm chất miền Tây ở tại miền Đông này.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

LỜI NGỎ

  Hội nhóm Quán Chiêu Văn là nơi dành cho những người yêu thích văn chương và viết lách lui tới giao lưu sinh hoạt và chia sẻ cùng nhau về sở thích. Thành viên tự nguyện tham gia, không phân biệt vùng miền, tuổi tác, giới tính, nghề nghiệp và vị trí công tác... Tất cả thành viên đều...

Thăm dò ý kiến

Bạn biết gì về Quán Chiêu Văn?

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây