MỘT LÀNG NHO NHỎ Ở VEN SÔNG - Tác giả: Hoàng Thị Minh Thu

Thứ ba - 20/10/2020 22:27
Bút ký của Hoàng Thị Minh Thu:
MỘT LÀNG NHO NHỎ Ở VEN SÔNG

 
Năm 2005 gia đình tôi dành dụm vay mượn mua được miếng đất nho nhỏ trong một xóm nghèo nằm bên bờ sông Sài Gòn mênh mông sóng nước thuộc phường An Phú Đông, Quận 12. Ba năm sau chúng tôi quyết định cất căn nhà cấp bốn để thoát kiếp ở nhà thuê trả tiền tháng, kể từ đó chúng tôi chính thức trở thành dân ngụ cư trên mảnh đất mà một thời là chảo lửa trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống Pháp và chống Mỹ của nhân dân ta.

I. CHIẾN KHU KHÁNG CHIẾN
An Phú Đông được bao bọc bởi sông Sài Gòn (sông mẹ) và sông Vàm Thuật bắt nguồn từ Cầu Sáng, chảy ngoằn ngoèo ôm trọn làng trong lòng mình trước khi hòa vào sông mẹ xuôi về biển lớn. Ngày trước, An Phú Đông có địa thế cù lao, giao thông đường bộ đi lại khó khăn, hệ thống kênh rạch lớn nhỏ chằng chịt như mạng nhện, những con đường đất đỏ quanh co chạy giữa những rặng bần, mù u, các loại dây mây um tùm, những vườn cau vườn dừa sum xuê, những rẫy dứa bạt ngàn, những rẫy mía xanh um cao lút đầu đã trở nên thuận lợi cho việc xây dựng căn cứ cách mạng và hoạt động kháng chiến. Chính vì thế mà ngày 25/12/1945, sau quyết định thành lập chiến khu kháng chiến An Phú Đông của Ủy ban kháng chiến Gia Định với chủ trương và nhận định “Ta vẫn có thể bám trụ được ở bán đảo này để vừa chiến đấu, vừa củng cố xây dựng lực lượng kháng chiến, bám trụ chiến đấu được ở Sài Gòn thì có nhiều tiếng vang với kháng chiến, giữ được lòng tin của đồng bào đối với kháng chiến”, An Phú Đông đã trở thành một khu căn cứ địa đóng vai trò bàn đạp ở ngay cửa ngõ sông Sài Gòn, một chiến khu kháng chiến ghi dấu ấn vào lịch sử đấu tranh hào hùng dành độc lập của dân tộc với sự giúp sức tận tình tận tâm của nhân dân trong vùng.
Cựu chiến binh Phạm Minh Hiền, nguyên là chiến sĩ Chi đội 6, Trung đoàn 306, LLVT TP Hồ Chí Minh từng kể trên báo Sự kiện và Nhân chứng (10/3/2017) : “Chúng tôi vẫn nhớ mãi chị Trần Thị Nương, nhà ở ven sông Sài Gòn, là cơ sở nuôi giấu cán bộ, bộ đội. Cuối tháng 12-1947, quân địch càn quét vào sát nhà chị. Con chị mới chừng 1 tuổi bất ngờ bật khóc. Để giữ bí mật, chị Nương đã bịt miệng em bé. Thật không may, cháu bé bị ngạt thở, đã qua đời sau đó, để lại nỗi day dứt, thương tiếc khôn nguôi trong lòng chúng tôi và đồng đội bao năm qua…”. Có lẽ cái tên Vườn Cau Đỏ (gồm An Phú Đông, Thạnh Xuân, Thạnh Lộc) ra đời không chỉ vì ở đây trồng nhiều cau, không chỉ vì thân cau bị ngả màu do sự tàn phá của chiến tranh, mà còn vì xương máu của biết bao con dân Miền Nam đã đổ xuống nơi đây, như trong những câu thơ đầy rung động của nhà thơ Xuân Miễn.
Bạn đã từng nghe An Phú Đông
Một làng nho nhỏ ở ven sông
Những năm chinh chiến! Ôi chinh chiến!
Sông nước Sài Gòn nhuộm máu hồng…
Trong những năm chống Mỹ, An Phú Đông nói riêng và Vườn Cau Đỏ nói chung bị liệt vào danh sách “vùng trắng”, bị địch càn quét và bắn phá ác liệt, không một bụi cây lùm cỏ, nương mía hay gốc dừa nào là không có dấu chân lùng sục của địch tìm kiếm các cán bộ chiến sĩ cách mạng, nhưng cũng chính dưới những bụi cây lùm cỏ, nương mía gốc dừa ấy nhân dân vẫn kiên trung cùng cách mạng, tiếp tế cho cán bộ chiến sĩ bằng những gói cơm, gói bắp, ổ bánh mì, đòn bánh tét ăm ắp nghĩa tình.
Khi cuộc chiến đang đi vào hồi kết, vùng chiến khu cách mạng và người dân An Phú Đông đã phải chứng kiến một tai nạn kinh hoàng và bi thảm, khiến máu một lần nữa lại nhuộm đỏ trên mảnh đất đau thương này, đó là chiếc máy bay Galaxy C-5A chở hơn 200 trẻ em và gần 100 người lớn trong chiến dịch “Babylift” đưa trẻ mồ côi sang Hoa Kỳ (4/4/1975), vì gặp sự cố đã rơi xuống một nương mía gần đường Vườn Lài ngày nay, khiến cho 78 trẻ em và 50 người lớn thiệt mạng. Đó thực sự là một chương cuối thê thảm và đầy ám ảnh về chiến tranh.
Ông Ba Ánh (thường gọi là Ba Đực) kế bên nhà tôi, tuổi ngoài sáu mươi, da ngăm đen, người chắc lẳn, lúc nào ông cũng cởi trần mặc độc quần cộc, khăn mặt vắt trên vai để tiện lau mồ hôi, kể lại, “hồi chiến tranh vùng này ác liệt dữ lắm bây, dân chạy di tản tứ tán chứ đâu dám ở đây, vì thế mà làng xóm thưa thớt, mãi sau chiến tranh dân mới dần quay về khai hoang, xây dựng lại trên mảnh đất hoang tàn đổ nát, vậy chứ mà bây xem, giờ cũng tới hết nửa là dân nhập cư đấy”.

II. MIỀN THÔN QUÊ
Lúc tôi về đây, chỉ những trục đường chính là rải đá rải nhựa, còn những đường ngõ hẻm vẫn là đường đất đỏ, bụi mù vào mùa nắng, lầy lội ngập lụt vào mùa mưa, dân cư thưa thớt, nhà cửa tuềnh toàng, chủ yếu là nhà cấp bốn lợp mái ngói hay mái tôn, lúp xúp núp dưới những tán xoài tán mận xanh um xum xuê trái. Đất đai nhiều nhưng chủ yếu bỏ hoang chứ không thấy trồng trọt hoa màu gì cả nên cỏ lác cỏ lau mọc vô tội vạ, có chỗ cỏ còn cao hơn cả người.
Đường vào xóm tôi một bên là hàng dừa chạy dài thẳng tắp cao vòi vọi, một bên là con rạch dẫn nước tưới tiêu, đường nhỏ đến nỗi hai cái xe máy đi ngược chiều phải đi khéo lắm, phải lựa chỗ dữ lắm mới không bị đụng vào nhau, chẳng may mà đụng là rớt xuống rạch liền, anh Ba Quế nhà ông Ba Đực mấy lần đi nhậu xỉn tới về bị té xuống rạch ướt lượt thượt như chuột lột, may mà ảnh chưa xỉn tới ngoắc cần câu, không thì chắc gì đã biết lối mà lên. Con đường này trước đây là bờ ruộng, giờ xây nhà trên đất ruộng nên mới khai thông bờ thành đường, đất đai ngày một có giá, một tấc đất một tấc vàng, xóm lại toàn là dân lao động nghèo nên đành chịu để đường vào vừa nhỏ vừa khó đi chứ không dám bỏ tiền ra mua, ai cũng nín, kêu ráng chờ đến lúc nhà nước chuyển đổi. Cực nhất là lúc xây nhà xây cửa, chỉ có mỗi xe rùa làm phương tiện vận chuyển nguyên vật liệu 300-400m từ ngoài đường lớn vào công trình.
Cả xóm có được mươi nóc nhà thì chỉ mỗi nhà bà Bảy chủ đất tôi mua và nhà ông Ba Đực là dân khai hoang An Phú Đông, còn lại là dân nghèo trên Sài Gòn xuống mua hoặc dân ngoại tỉnh vô lập thân lập nghiệp trú ngụ chừng dăm bảy năm nay, vì thế mà chúng tôi hay gọi xóm mình là xóm ngụ cư hay phố nhà quê. Mà kể ra cũng quê thật, từ người già đến con trẻ, từ người lao động chân tay đến lao động trí thức, người nào cũng đơn giản chất phác chứ không se sua màu mè ăn diện gì, sáng tối ngõ trên ngõ dưới lao xao tiếng người cười nói, rù rỉ rủ nhau tụm năm tụm ba làm cữ cà phê cà pháo, rổn rảng chuyện trò trên trời dưới bể. Bà Bảy gần bảy chục tuổi, răng đã rụng miệng móm mém, vậy mà gặp ai bà cũng nở nụ cười thật hiền lành, hỏi han thân tình thấy thương đâu mà thương. Bà Hai vẫn còn độ tuổi trung niên, tính tình vui vẻ trẻ trung, yêu văn nghệ, mỗi cuối tuần lại bật karaoke rồi rủ hàng xóm vô hát hò tưng bừng. Ông Ba Hoàng gày gò khắc khổ, là dân Phú Nhuận gốc, vì không muốn chui trong căn phòng nhỏ xíu chật chội trên phố nên bán đi về dưới đây mua miếng đất rộng rãi hơn, cất cái nhà cấp bốn ở thoải mái, sáng sớm còn được nghe chim hót, đêm đến tiếng chó sủa nhộn khắp xóm, mùa mưa ếch nhái kêu ộp oạp râm ran, khí hậu thì trong lành mát mẻ. Ông sống rất tình cảm nhưng không biết nói ra, chỉ giữ rịt trong lòng, nhớ bận anh hàng xóm lâu năm là chồng tôi, cũng là bạn cà phê mỗi sáng với ổng chuyển về Bắc, sau nửa năm tôi mới về theo, ổng sang xin tôi cho ổng đôi dép mà chồng tôi hay đi, bảo “để tao nhìn cho đỡ nhớ nó”, tôi sụt sùi còn mắt ổng rưng rưng. Chị Tư mập tròn lùn tẹt nhưng tính khí xởi lởi, thấy ai cũng nhanh nhảu hỏi chuyện, chị buôn bán đủ thứ, sáng bán bánh mì, tối bán bột chiên, tôi hỏi chị: “ở đây nhiều công ty sao chị không đi làm cho ổn định?”, chị cười sang sảng : “ Tui không chịu được cảnh làm công nhân bó chân bó tay một chỗ từ sáng đến tối, có việc gì xin nghỉ cũng khó khăn, buôn bán thế này tha hồ tự do thoải mái”.
Về xóm, chúng tôi hay được ăn thứ bánh dân giã có cái tên mộc mạc là bánh Ít. Hễ cứ thấy nhà ai con cháu nhộn nhịp bày biện lá chuối, bột gạo nếp, đậu xanh, dừa nạo rồi ngồi xoài ra hàng hiên mà gói bánh là biết hôm sau nhà đó có đám giỗ, bánh Ít để cúng và để “lại quả” cho bà con hàng xóm cùng một túi trái cây. Nhà bà Ba một năm vài cái giỗ (giỗ ông, giỗ bà, giỗ con dâu, giỗ con trai) nên hay làm bánh Ít nhất, bận mấy tôi cũng thấy bà lôi đồ ra rồi kêu thêm ba cô con dâu làm cùng chứ không đi mua bao giờ. Bà gói bánh rất khéo, cái nào cái đấy hình tam giác cân đều đẹp như thể gói khuôn, bà thường đặt nồi hấp bánh ngay trước cửa nhà nên mùi bánh chín tỏa ra một thứ hương thơm khó cưỡng, lúc ấy chỉ thèm được nhón lấy một cái, bóc lớp lá chuối đã ngả vàng ra mà cắn một miếng để cảm nhận mùi lá chuối dân giã, vị ngọt của đường, vị béo của dừa, vị bùi của đậu xanh hay độ dẻo mà không dấp dính chân răng của bột nếp.
Ở với nhau bao năm nhưng tôi cũng không biết tên thật của bà Bảy, bà Ba, bà Hai, cô Út, chị Tư, anh Tư…là gì, đó là cách gọi quên thuộc theo thứ bậc trong gia đình của người nam, riết rồi thành quen mà nghe thật gần gũi thân thương nên ai đến cũng cứ theo đó mà gọi, chỉ ngoại trừ những tên thứ bậc mà giống nhau thì mới phân biệt bằng cách gọi tên thật đi kèm như ông Ba Đực, ông Ba Hoàng, anh Ba Quế, anh Ba Thành.

 
 
 


III. ĐẤT CÒN NHỚ CÂY!
Tôi hỏi bà Bảy : “ Sao đất đai ở đây để hoang hóa phí quá vậy bà? Sao không ai trồng trọt gì vậy bà?”, bà Bảy trầm ngâm rồi chậm rãi kể: “Hồi tui với ông nhà tôi lấy nhau rồi về đây làm ruộng, vì ở đây gần sông nên phù sa bồi đắp đất đai màu mỡ phì nhiêu lắm nghen, trồng cái gì cũng tốt, trồng lúa nè, trồng hoa lài, hoa ngâu, rồi trồng cả cây riềng cây sả. Lài ngâu ở đất này là nổi danh lắm nghen, nhiều người thành đại gia với loài hoa quý này, nhà nào cũng trồng, nhiều thì vài ngàn mét vuông, ít cũng phải vài trăm, thương lái họ tới tận nơi dành nhau mua, thậm chí muốn mua có khi còn phải đặt tiền trước. Sau này đất đai thì cứ cằn cỗi đi, nước tưới tiêu thì ô nhiễm công nghiệp, lứa cây trước thì già dần, lứa cây sau thì trồng trọt vất vả mà thu hoạch không được bao nhiêu sinh ra chán nản, đám trẻ lớn lên không chịu làm ruộng làm rẫy nữa, đứa thì bỏ đi làm công ty đứa thì quay ra buôn bán”.
Khi ấy trong xóm tôi vẫn còn mảnh ruộng trồng hoa lài, nhưng gốc lài cũng khô khan cằn cằn cỗi cỗi chứ nhìn không được mướt mát tươi tốt, lài vẫn ra hoa trắng dịu trắng dàng lốm đốm xen giữa màu xanh của lá, vẫn tỏa hương thoang thoảng khắp không gian như muốn gọi cả một vùng quá khứ vàng son trở về. Mỗi đợt hoa lài nở rộ, sáng sáng chiều chiều tôi vẫn thấy các chị các bà đầu đội nón, lưng đeo giỏ len lỏi giữa những luống lài thu hoạch hoa như những con ông chăm chỉ, nhưng hình ảnh đó chỉ được hai năm thì biến mất hoàn toàn. Có lẽ những khu vườn bạt ngàn hoa trắng muốt ngày xưa, những tháng ngày người nông dân cần mẫn đi lặt bông lài vẫn không kịp phải thuê thêm nhân công ngoài, những đêm trăng thanh gió mát ngồi bên hàng hiên mà nhâm nhi tách trà đậm đà đượm mùi hương của chính những bông hoa trong vườn nhà đã trở thành dĩ vãng, đã trở thành quá khứ một đi không trở lại với người dân vùng này.
Đất lại bỏ hoang, chỉ cỏ là nhanh mọc dù đất có tốt hay không, thỉnh thoảng có chủ đất nào đó bỗng nhớ nghề hay vì một lý do nào đó nên tôi lại thấy dặm một vườn riềng, nhưng đâu đó cũng được mấy lần thì lại thôi.
Nhiều hộ ở An Phú Đông sau hoa lài hoa ngâu đã chuyển sang trồng mai vườn, hoặc mai ghép trên chậu, trồng hoa cúc, hoa mào gà, hoa vạn thọ để bán tết, có vườn rộng cả ngàn mét vuông. Nhưng rồi cuộc sống ngày một phát triển, đô thị hóa công nghiệp hóa khắp nơi khiến nhiều người không còn tha thiết với nghề làm vườn làm ruộng nữa, nhiều nhà nhổ bỏ cả mai cả hoa, đem đất san lấp mặt bằng rồi phân lô bán đất nền gần hết. Chỉ những người của làng mai thật sự còn đam mê với nghề thì còn trụ lại tiếp tục với nghề trồng hoa kiểng lắm công phu này, nói công phu là bởi người trồng mai để có một cây mai đẹp, sai hoa và ra hoa đúng dịp tết, bán được giá thì phải ăn ngủ cùng mai, chăm mai như chăm con mọn, phải rành về các loại mai, các kỹ thuật trồng và uốn nắn, cắt tỉa, tạo thế mai, kỹ thuật chăm bón phân thuốc cho mai, không những thế người trồng mai còn phải theo dõi thời tiết khí hậu để mà kịp thời xử lý các vấn đề bất ổn cho mai. An Phú Đông đến nay vẫn có những vườn mai có tiếng như vườn ông Tám Sết, ông Út, ông Sáu Khanh.
Dân xóm tôi không nhà nào trồng mai nhưng cứ đến tết là nhà bà Bảy, nhà chị Tư, nhà bà Ba lại trồng các loại hoa cúc, nhiều nhất là cúc vạn thọ để bán kiếm tiền tiêu tết. Khoảng tháng mười, tháng mười một âm lịch hàng năm là các bà các chị đánh luống trồng cây ngay thửa ruộng bỏ không cả năm trước mặt dãy nhà chúng tôi, ngày nào cũng thấy bóng các bà các chị đi lại giữa những vạt cúc ngày một xanh um tốt tươi nhờ tay nghề giỏi chăm bón, khi thì cầm vòi phun nước tưới cây, khi thì lặt cỏ nhặt sâu, khi thì bấm đọt, bỏ nụ. Gần tết, những nụ hoa đủ màu lốm đốm giữa màu xanh ngăn ngắt diệu vợi loang xa, cận tết cả một vùng trước mắt tôi bừng sáng bởi muôn sắc màu rực rỡ, nhưng có lẽ tôi thích nhất những khoảng ươm vàng khoe mình dưới nắng. Các thương lái vào tận vườn hỏi mua, các bà các chị người đánh cụm nhổ cây cho thương lái, người cho lên xe máy mang ra chợ bán được giá cao hơn, hàng xóm chúng tôi xúm vào phụ việc cũng không quên mua ủng hộ, chọn cho gia đình mình những chậu hoa đẹp nhất, nhiều nụ nhất, vừa ý nhất về để bày trên ban thờ và trồng vào chậu trưng chơi tết trước cửa nhà.
Đám thanh niên xóm thì năm nào cũng đi bán mai thuê cho các chủ lái trong vùng, anh thì lên các quận trung tâm, anh thì theo xe ra ngoài tỉnh, cũng có anh thì ngồi ngay khu vực Ngã Tư Ga, dọc đường Nguyễn Oanh hay công viên Gia Định, những cũng miết từ chặp 25, 26 tới tận 29, 30 mới về. Thế là có tiền sắm sanh chơi tết tẹt ga rồi, đêm 29, 30 lại tụ tập hàng xóm ngồi đánh bài tây, uống cà phê, coi nồi bánh tét, điện sáng thâu đêm, lửa cháy bập bùng tí tách, tiếng bài tây đập ten tét, tiếng cười nói nhộn nhạo cả xóm. Tết là vui hết mình, tết là chơi hết mình, ra năm lại tiếp tục cày bừa chứ tằn tiện dành dụm chi cho cực cái thân.

 
 
Làng quê ven sông | Mapio.net
 
 

IV. CÕI RIÊNG
Nếu bạn đang đi trong các đường nội thành như ở Quận 1, quận 3, quận 5, quận Tân Bình, quận Thủ Đức, Quận Phú Nhuận, Quận Gò Vấp mà chạy sang An Phú Đông bằng con đường qua cầu vượt Ngã Tư Ga, qua cầu Bình Phước, hay lên một chuyến phà An Phú Đông để băng qua sông Vàm Thuật, bạn sẽ dễ dàng cảm thấy thấy một không khí chan hòa, một không gian hoàn toàn khác biệt của An Phú Đông, đó là sự dân giã và tĩnh lặng yên bình như thể ở nơi chốn thôn quê cách xa với thành phố, mặc dù những năm gần đây điều kiện đường xá cũng tốt hơn. Cứ mỗi chiều tôi đi làm về, chỉ cần đến cầu An Lộc thôi là tôi đã cảm thấy khoan khoái vì sắp về đến “cõi riêng” của mình. Bỏ lại đằng sau những ồn ào náo nhiệt của phố xá đông đúc và những áp lực của công việc, tôi tự do tự tại thả hồn mình trên bầu trời bao la, nơi ánh hoáng hôn đang dần buông xuống, nơi những đám mây lững lờ trôi với đủ hình dạng dễ khiến người ta liên tưởng. Tôi thả hồn mình vào những cây xanh lùm cỏ dại ven đường, tôi thong dong chạy xe, căng lồng ngực đón gió từ sông Sài Gòn lồng lộng thổi về, tưởng như mình đang nghe tiếng sóng dập dờn đổ vào bờ ngay phía dưới chân mình trong quán cà phê ven sông tôi thường ngồi, hay nghe thấy tiếng ầm ì của những con tàu đang chạy dọc lòng sông.
Tôi yêu khoảng không gian khoáng đạt từ cửa sổ căn gác của gia đình tôi, nơi tôi và lũ trẻ có thể nhìn thấy cầu vồng bảy sắc sau một cơn mưa chiều bất chợt, và không thiếu những đêm huyễn hoặc, ánh trăng vằng vặc dịu dàng xuyên qua khung cửa sổ lênh láng đổ lên người chúng tôi, thắp những vì sao lấp lánh trong mắt con trẻ và mang đến cho chúng những giấc mơ thần tiên.

V. HƯỚNG VỀ TƯƠNG LAI
Năm 2018, quyết định 6125/QĐ-SGTVT-UBND ngày 30/10/2018 của Sở Giao thông vận tải Thành phố Hồ Chí Minh về việc phê duyệt dự án xây dựng cầu tạm (kết cấu thép) An Phú Đông đã khiến cho người dân vui mừng vì sẽ không còn cảnh “muốn qua sông phải lụy phà” nữa, không còn cảnh chen chúc nhau một chỗ đứng trên phà mỗi buổi sáng hay giờ tan tầm trên đường đi làm, đi học. Muốn đến trung tâm thành phố cũng sẽ trở nên dễ dàng hơn, gần hơn, đồng thời cũng phần nào giảm tải các tuyến đường giao thông khác như Hà Huy Giáp, Nguyễn Oanh hay Phan Văn Trị. Ngày 5/2/2020 công trình xây dựng cầu tạm chính thức được khởi công đã biến giấc mơ cây cầu nối hai bờ vui của người dân thành sự thật. Cũng từ khi có thông tin xây cầu tạm thì giá đất ở An Phú Đông tăng vùn vụt, nhiều người đổ về mua đất ở khu vực này, có lẽ bất động sản phát triển thì cơ sở vật chất hạ tầng cũng sẽ được quan tâm đầu tư nhiều hơn nữa, có thể trong tương lai không xa, An Phú Đông sẽ trở nên hiện đại hơn, khang trang hơn. Tuy nhiên với một địa thế đặc biệt, nằm nghiêng mình bên dòng sông mênh mông, với sự chân chất mộc mạc mà cương cường của một vùng thôn quê cách mạng vốn có, tôi hy vọng An Phú Đông sẽ có những quy hoạch thật hài hòa để mãi giữ được màu xanh và khoảng không gian riêng biệt của mình, để có thể trở thành một “cõi riêng” không chỉ cho những người cư trú nơi đây, mà còn cho bất cứ ai muốn tìm đến để được tận hưởng cái không khí chan hòa của vùng sông nước cùng cây cỏ, hoa lá, tiếng chim kêu và đến cả cái nắng vùng nhiệt đới quen thuộc cũng hóa nên thơ.
02/07/2020

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

LỜI NGỎ

  Hội nhóm Quán Chiêu Văn là nơi dành cho những người yêu thích văn chương và viết lách lui tới giao lưu sinh hoạt và chia sẻ cùng nhau về sở thích. Thành viên tự nguyện tham gia, không phân biệt vùng miền, tuổi tác, giới tính, nghề nghiệp và vị trí công tác... Tất cả thành viên đều...

Thăm dò ý kiến

Bạn biết gì về Quán Chiêu Văn?

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây