TRỞ VỀ VỚI ĐÁ

Thứ tư - 26/02/2020 06:51

Tản văn của Phạm Tú Anh

"Nhớ từng mặt đá rỗ xù rêu hoang lạnh
Hằn trăm năm tiếng chiêng
Vọng nghìn đời những khúc xường đêm
Mặt đá hiện lên mặt người lấm láp..."
(*)

Ngày tôi đi lũ đá khóc sau đồi, tôi không hẹn với đá lần trở lại... Vời vợi những tháng năm nhớ đá khôn nguôi.
*
Nhà tôi nằm ở sát chân núi Tày Vày, đó là ngọn núi cao nhất vùng Mường Tạ. Tôi sinh ra nơi ấy, lớn lên nơi ấy, nên núi đá ấy là một phần trong cuộc đời tôi.
Đá có từ bao giờ chẳng rõ, đá đã ăn ở với bao kiếp người mường này tôi cũng không hay. Chỉ biết lớn lên đã thấy đá hiền hòa, bền bỉ nơi đó, như thể kiếp mệnh sinh ra mà bầu bạn với người. Ngọn Tày Vày hùng vĩ, sừng sững, dựng cao ngất, chạy dài từ đầu làng đến cuối bản, rồi tít tắp nối xa sang làng khác. Nó như một bức tường thành khổng lồ bao bọc, chở che cho cả làng, cả mường tôi. Bao đời sống trong lòng đá, người mường tôi ai cũng nghe, cũng hiểu được tiếng đá. Đá biết vui, vách đá vọng ngân nhịp cồng chiêng hát ngày mùa, lễ hội. Đá biết đau, vách đá khóc sầu thương theo tiếng chiêng ma đưa tiễn người về trời. Đá trơ khô là thế, tưởng chừng vô tri, nhưng tôi thì tin đá có linh hồn.
Thoai thoải bám dưới chân thành vách ấy là một vùng đồi dốc rộng. Đó là nơi cho người bản tôi làm ruộng nương, chăn trâu, hái rau, kiếm củi, săn bắt.v..v.. để sinh sống. Trên đồi dốc đó có trăm nghìn hòn đá lớn nhỏ nằm rải rác, xen lẫn vào nương rãy, hoa màu, vào cỏ cây. Đá chia nhau ở khắp nơi như để đón đợi
người, nên cứ bước chân ngược đồi là gặp đá, ở đâu có sự sống ở đó có đá.
Đá chứng kiến bao thế hệ người sinh ra, lớn lên và tử biệt. Hồn người thấm vào đá, đời đá làm một phần đời người. Đá có lúc là chiếc giường chiếc nôi, ru trẻ thơ những giấc yên bình bên cha mẹ trên nương rẫy. Đá có lúc biết làm đứa bé bầu bạn với lũ nhóc con, chơi đủ trò tuổi thơ trên lưng mình. Đá có lúc là tri kỷ, lặng lẽ nghe hết mọi lời thở than, lặng lẽ thấm hết bao nhiêu nước mắt mặn đắng cho người. Đá, có lúc là nơi kết duyên trăm năm đôi lứa, là nơi cho người nông phu ngồi khoe với nhau những vụ mùa ấm no. Đá biết sinh giấc mơ. Trẻ con mường tôi được đi học, nhưng một buổi đến lớp, một buổi vẫn phải lên đồi chăn trâu, hái củi, phụ nương rẫy. Lén đem theo cuốn sách, trang vở tranh thủ lúc nghỉ ngơi trải lên đá mà thắp ước mơ. Bao nhiêu người ở nơi này, trong đó có tôi, cũng đã bay theo được giấc mơ sinh từ đá. Rồi những hang đá, hẻm đá như ngôi nhà của trời, che nắng, che mưa cho người đi đồi, đi nương nghỉ ngơi, trú ngụ những lúc nhọc nhằn, mỏi mệt. Chẳng ít những đứa trẻ đã được sinh ra ở hang đá, khi mẹ đi nương không kịp về trước cơn trở dạ, đá đã cưu mang, che chở cùng vượt qua lúc nguy khốn. Tôi nhớ mãi, ám ảnh mãi, mà cũng yêu thương đá nhất từ câu chuyện của cô “Bích dở” bản tôi với đá. Đúng như cái tên người ta hay gọi, cô Bích là một người đàn bà điên điên, dở dở.
pham tu anh
Người cô lúc nào cũng nhếch nhác, hôi hám, bẩn thỉu, dở dại nên cả đời không ai gần gũi, bầu bạn, chỉ chơi với đá, ăn trên đá, ngủ trên đá, hát cười với đá. Thế mà, bỗng một ngày chừng tuổi đôi mươi gì đó, cô “Bích dở” có mang. Cả bản cả mường xôn xao đoán định, gạn hỏi về người làm nên cái thai, nhưng mãi vẫn chẳng ai biết được gì. Cô thì luôn cười, chỉ tay lên núi mỗi khi ai đó gặng hỏi.
Và người ta đành nói với nhau rằng, cô có thai với đá.
Đứa trẻ sinh ra trong hang đá vào một ngày gió lạ. Lần nữa người ta lại chờ đợi đứa bé lớn từng ngày, soi mói kỹ từng nét mặt, dáng hình,những mong thỏa cơn tò mò về người đàn ông nào đó. Nhưng rồi cuối cùng họ vẫn phải lắc đầu nói với nhau, nó là con của đá. Chẳng biết có ai tin thế thật hay không, nhưng tôi tin điều đó từ ngày còn chưa hiểu sự, cho đến khi lớn lên tôi vẫn muốn giữ niềm tin đó. Cha đứa bé là ai thì nghĩa lí gì không với một người đàn bà điên dại? Tôi chỉ thấy lòng ấm áp, thấy như thể biết ơn, như thể trân quý đá hơn khi nghĩ rằng, ở một hang đá nào đó, trên một phiến đá nào đó, người đàn bà xấu số kia đã được biết đến một cuộc đời trọn vẹn, một đời đàn bà đủ nghĩa. Người làng bảo, từ khi sinh đứa bé cô mới thật điên, vì cô hay ôm con lên hang đá trên đồi, ngồi suốt ngày dài như ngóng đợi, rồi có lúc ôm đá mà cười, có lúc úp mặt vào đá mà gào khóc. Không, tôi thì tin, từ đá người điên đó đã biết hạnh phúc, biết khổ đau tròn một cuộc người...
*
Tôi lớn lên và đi xa theo giấc mơ, như con chim păng póc bỏ rừng tìm vùng trời rộng. Nhưng kí ức vẫn đầy những đá, hằn từng mặt đá xanh rêu méo xù, gồ ghề nhoặn hoắt, nhớ từng phiến đá trơn lẵn dấu vết hạnh phúc, khổ đau của bao nhiêu kiếp người, trong đó có tôi.
Rồi một chiều trở về thăm núi sau dặm dài biền biệt. Tôi sững sờ nghe đá khóc. Trăm nghìn kiếp, đá không phụ người mà người đem lòng phụ đá. Đói khổ chi nên nỗi, hay tham vọng đời vô tận mà đem bán đá để ăn, để mưu cầu.
Lòng tôi vỡ tan như những mảnh đá vụn nát sau nhát búa, vết mìn trên những cánh nương cũ. Núi bây giờ tan hoang, lởm chởm, xơ xác, trắng bạc, xác cây xác đá. Khắp chân đồi ồn ã tiếng máy khoan, mìn, búa . v.v. Câm bặt rồi tiếng chiêng vang vọng trên thành vách Tày Vày. Khắp nơi khét lẹt mùi thuốc mìn,
mùi bụi đá. Những nóc nhà, những lùm cây, những mặt người phủ mốc, lấm láp bụi đá trắng bạc, lạnh buồn như đá. Bán hết đá rồi, sao người như sống cuộc đời đói nghèo xác xơ, buồn tẻ hơn xưa?
Tôi đi, nghe sau lưng vách núi Tày Vày gào thét tiếng máy, tiếng mìn xé trời, nghe bầy đá vụn vỡ va vào nhau khóc trên mỗi bước chân qua ngậm ngùi, thương tiếc...

Ghi chú: (*) Trích bài thơ Nhớ đá của chính tác giả. 

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

LỜI NGỎ

  Hội nhóm Quán Chiêu Văn là nơi dành cho những người yêu thích văn chương và viết lách lui tới giao lưu sinh hoạt và chia sẻ cùng nhau về sở thích. Thành viên tự nguyện tham gia, không phân biệt vùng miền, tuổi tác, giới tính, nghề nghiệp và vị trí công tác... Tất cả thành viên đều...

Thăm dò ý kiến

Bạn biết gì về Quán Chiêu Văn?

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây