QUÀ TẶNG CỦA TRỜI

Thứ hai - 28/09/2020 23:35
Truyện ngắn của Nguyễn Công Tiến

Chiếc xe song mã màu trắng mang tên “Biệt thự vàng” lăn bánh dọc theo đại lộ Merseburger. Buổi tối cuối thu xuống thật nhanh, ngọn đèn đỏ quạch treo sau xe lúc lắc theo nhịp nước kiệu của đôi ngựa. Bên đường, hàng Linhden đã trút gần hết lá, đứng nghiêm trang như một đội quân danh dự, nhòa dần phía sau. Trước khi thống nhất nước Đức, đại lộ này đã mang tên Lê Nin. Cũng như những đường phố khác như Pierre Degeyter, hay Karl Liebknecht… sau khi hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình, đã lặng lẽ ra đi. Thay vào đó là một cái tên rất mơ mộng như “Nhành cỏ” hay chỉ đơn giản là “17 tháng 6”… Vậy mà, có một con phố nhỏ mang tên “Người Hà Nội”nằm ở vùng phía nam thành phố, người ta vẫn giữ cái tên đó đến tận ngày nay. Cư dân Việt ở thành phố này, thường rất hãnh diện khi nói về điều ấy.

Người xà ích giật dây cương cho đôi ngựa rẽ vào ngõ Schmeer. Lọc cọc lăn bánh thêm một đoạn trên con đường lát đá đã nhẵn bóng theo thời gian, cỗ xe dừng lại trước căn nhà số 12, đèn sáng mờ mờ. Mặt tiền của ngôi nhà vẫn giữ được kiểu lối cổ xưa: Cổng hình vòm, được ghép bằng đá, theo đúng nguyên mẫu cửa chính nhà thờ St.Marien được xây từ năm 1530 ngoài quảng trường thành phố; các riềm cửa sổ được trạm trổ hoa văn cầu kì và đặc biệt, phía trên cửa ra vào, người ta treo tấm biển đồng có khắc hàng chữ: “Tháng 8 năm 1545, Dr. Martin Luther đã ở trong biệt thự này”. Điều đó càng làm tăng thêm giá trị cổ kính và bí ẩn của ngôi nhà. Có lẽ, cũng vì vậy mà bà chủ Heinrich đã quyết định đưa ra một chiêu kinh doanh đặc biệt: Dùng xe song mã để đưa đón khách. Đôi ngựa cao to với bộ lông bóng mượt đen tuyền, có nguồn gốc cụ kị mãi bên Tây Á, ngày dăm ba chuyến dệt đi dệt lại giữa dòng xe cộ đông đúc, quả là một nét chấm phá đặc sắc cho phố phường.

 
* * *
Xe chạy vòng ra sau nhà, đến giữa khỏang sân sau thì dừng hẳn. Một người đàn ông và một người đàn bà gốc Á bước xuống. Họ đi nhanh qua sân rồi lẹ làng lách qua cánh cử gỗ tuy đã cũ, nhưng được chạm trổ rất đẹp. Đèn bật sáng theo mỗi bước chân của khách. Tay vịn cầu thang đã ngả nước đen bóng và mỗi khi có người bước lên, những tấm lát bằng gỗ sồi đã cũ, lại vặn mình rên lên kèn kẹt.
- Chờ em tí đã!
Thùy gọi với người đàn ông phía trước - Mũi giày cao gót giẫm phải mép váy làm cô suýt ngã.
Người đàn ông sụp mặt trong chiếc mũ rộng vành quay lại và đưa tay dắt cô lên. Họ tiếp tục men theo một hành lang hẹp để tìm đến số phòng 203. Cửa phòng vừa khép, người đó đã quay lại đỡ áo khoác cho Thùy.
- Có nhớ anh không?
- Nhớ! Này em bảo, lần sau có gọi thì số máy phải để ẩn nhé! Lần trước lão nghi đấy.
Vứt bừa mọi thứ lên ghế, người đàn ông bế xốc cô lên tấm đệm dày có chải chiếc khăn màu hồng phẳng băng, trên đó người ta đã đặt sẵn hai chiếc gối nhồi lông vũ mịn màng. Họ lao vào nhau như thể đã cả nghìn năm này chưa được như vậy… Dưới sân, gió mỗi lúc một mạnh, cơn mưa ngắn được thổi tới, đủ làm ướt chân bụi hồng leo bên tường.
- Bao giờ lão sang?
- Ngày mai.
- Đi đón không?
- Không! Ốm.
Người đàn ông thành thạo luồn tay xuống phía dưới: “Ốm mà thế này à?”
Thùy cong người lên, nở một nụ cười thỏa mãn. Họ áp môi vào nhau trong say đắm. Tiếng cười rinh rích, đủ lấp đầy một không gian riêng tư nhỏ hẹp. Bên kia ngõ nhỏ, từ căn phòng vừa sáng ánh đèn, tiếng dìu dặt lọt qua khe cửa sổ mở nghiêng, người ta đang chơi một bản Tango.
- Em có nhớ lần đầu tiên chúng mình ôm nhau như thế nào không?
Người đàn ông nới vòng tay, nhìn vào mặt Thùy chờ đợi.
Thùy khẽ mỉm cười, cũng từ bản nhạc này đây… Ngày ấy cô và chồng đi dự sinh nhật một người bạn, tàn tiệc, người ta dẹp bàn để khiêu vũ. Tiếng loa thùng đập inh tai nhức óc. Thoạt đầu, bọn thanh niên ầm ĩ với Discofox, sau đó là tới những bản Latein bốc lửa Nam Mĩ. Thấy vợ chồng cô ngồi nhìn mọi người nhẩy đã lâu, một người tiến lại phía họ: “Xin phép anh, cho em được mời chị”. Mặc dù đã từ chối là nhảy rất kém và không biết gì về Tango, nhưng Thùy vẫn ngập ngừng đứng dậy. Nhận được cái gật đầu và ánh mắt khích lệ của chồng, đôi chân cô bất giác bước theo người thanh niên trẻ. Người này hơi dong dỏng, mái tóc xẻ ngôi giữa bồng bềnh, cô đã để ý ngay khi anh ta quay những bước đầu tiên trên sàn. Giọng trầm ấm, “bồng bềnh”thủ thỉ vào tai Thùy:
- Đừng lo! Em sẽ dạy chị. Bước cơ bản rất đơn giản và dễ nhớ, chỉ một lúc là chị nhảy được. Nào! Bắt đầu nhé: “chậm…chậm…nhanh nhanh chậm”.
Bàn tay khỏe mạnh không đặt lên cao, cứ ôm riết bên lườn mềm mại ấm nồng của Thùy. Hơi thở quẩn quanh, hai đùi của họ sát vào nhau. Anh mắt như vô tình, thỉnh thoảng lại lướt qua bộ ngực căng đầy nhựa sống. Thùy thấy mặt nóng bừng như vừa uống cả một li Sâm banh. Từ lúc đó, họ gần như tập cho nhau suốt thời gian còn lại.
Sau này mới cô biết, “người ấy” kém mình những bốn tuổi.
- Ngày xưa lão quen em như thế nào, không phải cũng trong điệu Tango đấy chứ?
Câu hỏi hài hước và giễu cợt cắt ngang luồng suy nghĩ, Thùy phát nhẹ vào vai anh ta.
- Gô gô cái con khỉ! Ở rừng ra.
- Ở rừng ra là làm sao?
- Đau! Bỏ tay ra để em kể cho mà nghe. Quê em xưa con gái đi lấy chồng sớm lắm. Các cụ vừa thấy con mình phổng lên một tí là đã lo mất ăn mất ngủ. Trên đôi mươi mà chưa có đám nào ngó ngàng, coi như ế. Làng em bên này sông, chỉ qua con cầu gỗ ọp ẹp là sang tới thị xã Hà Đông. Mỗi khi bên em có chiếu phim là đám choai choai bên phố kéo sang lượn lờ tán gái. Lũ con gái đến tuổi hớn, cứ vón lại một chỗ rồi đấm lưng nhau thùm thụp. Bọn trai làng ghen, đánh nhau vỡ cả bãi. Ngày ấy, chẳng hiểu sao, em lại phải lòng thằng Bợn bên phố. Đã thấp bé lạị đen, nhưng bù lại, bố nó làm cán bộ tổ chức trên Hà Nội, mẹ có sạp hàng ngoài chợ thị xã. Em chỉ nghĩ đơn giản là, lấy nó, kiểu gì cũng được ra phố, thoát cảnh suốt ngày lội ruộng gỡ đỉa. Nhà em không ai đồng ý, nhưng em mặc kệ! Một tối, sang nhà em chơi, khi về ra đến đầu ngõ, nó kéo em xuống đống rơm… có mỗi tí... thế mà “dính”. Thằng mất dạy lẩn ngay. Sau này mới biết bố nó xin cho đi làm công nhân ở mãi trên nhà máy “Bóng đèn phích nước” Hà Nội. Lúc đầu em ép bụng, rồi thì nhảy các kiểu, thai cũng không ra. Sau, em sang ở nhờ nhà bà dì bên thị xã, định nạo, nhưng dì bảo: “Để yên tao xem”. Chồng dì người làng Mỗ. Bên ấy có người đi bộ đội về lâu rồi, hơn em những mười lăm tuổi, nhưng được cái hiền lành. Em giãy lên như đỉa phải vôi trộn bồ hóng. Lão trông cũng được trai, nhưng người xanh mướt, cứ lù đà lù đù, như thằng mất hồn.
- Bộ đội mà lù đù à?
- Có lẽ ngày xưa thì không, nhưng ở rừng lâu quá, hóa ra vậy. Học chưa xong phổ thông, lão đã xung phong đi bộ đội. Cõng ba lô vào đến Trường Sơn thì lăn ra sốt rét, phải nằm lại binh trạm. Sau đó người ta bổ xung lão đi coi kho mãi trong rừng xanh núi đỏ. Rừng núi mênh mông mà trong hang đá chỉ có hai người. Lúc đầu thì kho còn có người đến, người đi nhộn nhịp. Sau này, cả năm trời chẳng thấy ai đến nữa. Ngóng chờ thêm mãi mà vẫn không có tin tức gì, trong một lần đi tìm đường ra, người kia dẫm phải mìn lá, chết! Vậy là còn mình lão với cái kho sâu thăm thẳm. Tự săn bắt hái lượm mà sống. Mãi sau này, dân đi tìm trầm mới phát hiện ra hang, trông lão như người rừng, vẫn còn thoi thóp…Lúc ấy lão mới biết rằng chiến tranh đã kết thúc bốn năm rồi. Ra Thanh Hóa an dưỡng được mấy tháng, người ta phong quân hàm vượt cấp cho lão lên Trung sĩ rồi giải ngũ. Mọi thứ được mang về nhét không đầy cái ba lô. Tới nhà, cái gì cũng mới, cũng lạ, lão cứ bần thần như người bị “chài”gần chục năm trời. Cũng đi hỏi một hai đám gì đấy, nhưng gái làng chẳng đứa nào dám lấy. Sau này em đồng ý vì nghĩ câu dì em chửi: “Mày không gật ngay, để vài ngày nữa nó ễnh hẳn ra đấy, chó nó rước. Ngu lắm con ạ! Hơn một tháng chỉ như đẻ non, nó biết sao được”. Thế là thành vợ chồng. Khổ! lúc đầu lão không dám làm gì, em quờ tay ấn vào…lão run như chó phải bả. Nghĩ cũng thương!
- Khi đẻ thằng Hoàng, lão có ý nghi ngờ gì không?
- Nghi sao được, ăn nằm với nhau đấy, đưa vợ lên bệnh viện để đẻ đấy, làng xóm không thấy ai xì xào bàn tán gì cả, chẳng có lí gì để mà nghi. Lão quý nó lắm, cứ như mình đẻ ra vậy, suốt ngày bế nựng thằng bé. Từ đấy trở đi, xem ra lão trở nên hoạt bát vui vẻ hẳn. Em cũng mừng. Đến năm thằng Hoàng lên ba tuổi, lão được đi xuất khẩu lao động. Vài năm sau, hai mẹ con sang được Đức theo chế độ đoàn tụ gia đình. Thế là đứt đuôi con nòng nọc!
Người đàn ông trở dậy châm thuốc, anh ta đến bên cửa sổ mở hé, rít vội mấy hơi. Hòn than đỏ lừ nơi đầu điếu, thoáng soi được hàng ria con kiến.
- Khi em đẻ cái Hường thì thằng Hoàng học lớp mấy nhỉ?
- Lớp 7. Lão cũng khốn khổ với hai đứa này. Ngày còn bé chúng nó ngoan lắm, bố mẹ bảo gì cũng nghe, cho đi đâu cũng theo. Đến cái tuổi nửa người nửa khỉ, thằng Hoàng coi mẹ không ra cái gì. Chưa kịp mở miệng, nó đã bảo: Biết cái gì mà nói! Học mãi không thuộc một từ tiếng Đức, nó bảo mình ngu như bò. Một hôm em nhờ nó đi cùng đến chỗ bác sĩ để khám bệnh, ra khỏi nhà là nó cố tình đi lùi lại phía sau, mình đứng chờ thì nó đi sang bên kia đường, quyết không đi cùng. Sau này, lão có hỏi lại, nó bảo: Đi cùng mẹ xấu hổ lắm. Hóa ra là những ngày ấy, mỗi khi ra phố là nó lại chứng kiến cảnh người Việt Nam bán thuốc lá lậu, bị cảnh sát đuổi bắt chạy tán loạn, rồi có cả những người là bạn của bố mẹ nó bị khóa tay tống vào ô tô đưa lên đồn. Nói chuyện với lão, nó khóc và cứ hỏi rằng: Tại sao không phải là những người khác, mà lại là người Việt Nam? Lão ôm nó vào lòng: Không phải tại người Việt Nam đâu con ạ. Tại chiến tranh!
Nhưng phải đến năm thằng Hoàng học lớp 9, hai vợ chồng mới thực sự khốn khổ vì nó. Năm giờ sáng, khi cả nhà vẫn còn đang ngủ đã có tiếng đập cửa thình thình. Lão trở dậy , khoác áo ra hỏi, bên ngoài một giọng Đức ồm ồm: Cảnh sát đây! Mở cửa! Lão vén rèm nhìn xuống đường, thì thấy đèn công vụ quay loang loáng, xe cảnh sát đã đỗ đầy trước cửa từ lúc nào. Một toán cảnh sát đặc nhiệm với áo chống đạn, dắt theo cả chó săn ập tới như một cơn lốc. Tiếng quát tháo loạn xạ: “Không được hành động! Giơ tay lên!” Ba người lao ngay vào phòng khống chế thằng Hoàng. Cuộc lục soát diễn ra ngay trước mắt, em sợ quá cứ ôm chặt con bé Hường mà run.
- Chuyện gì mà kinh khủng vậy? Lão buôn lậu thuốc lá à?
- Không! Để em kể cho mà nghe: Sau một hồi khám xét, không thấy gì, họ dẫn giải thằng Hoàng ra xe, lão được đi theo để giám hộ. Mấy người còn ở lại để thẩm vấn em…Mãi đến chiều, hai bố con mới được về. Hóa ra bắt nguồn từ chuyện yêu đương của thằng ông mãnh. Nó thầm yêu trộm nhớ con Lea học cùng lớp. Một hôm, nó thổ lộ tình cảm của mình với con Lea. Không những từ chối, con bé còn đem kể lại cho lũ bạn trong lớp nghe. Nhiều đứa đem chuyện này ra giễu cợt thằng Hoàng. Vì vậy, đã có một trận ẩu đả ngoài sân trường. Vừa buồn, vừa uất ức, một hôm trên đường đi học về, nó nói với thằng Tom bạn thân rằng: Tao chỉ mong có một quả bom làm nổ tung chúng nó lên. Nhưng không ngờ, thằng Tom lại gọi điện báo cảnh sát rằng, thằng Hoàng muốn đánh bom. Thực ra đây chỉ là câu vu vơ kiểu trẻ con để giải tỏa tâm lí. Bình thường thì có lẽ cảnh sát cũng chưa hành động quyết liệt, nhưng vô phúc, câu chuyện lại trùng hợp vào thời điểm mà cảnh sát đang cố công điều tra một kẻ nặc danh. Kẻ này đã nhiều tháng nay, chuyên đến các trường học và viết những lời đe dọa đánh bom. Chưa tìm ra thủ phạm, mỗi khi có tin báo, cảnh sát lại phải đến phong tỏa, dò mìn hay canh gác suốt buổi; thêm vào đó, họ lại bị những lời chỉ trích gay gắt từ báo chí và phía phụ huynh. Vì vậy, sau khi nhận được thông tin của thằng Tom, họ nghĩ là đã đúng đối tượng, nên hành động ngay… Sau vụ này, thằng Hoàng bỏ nhà đi. Suốt mấy ngày hỏi thăm tìm kiếm trong thành phố không ra, sau cùng, qua lời bạn bè nó, lão phải lên tận Berlin mới thấy. Qua chát xít, cu cậu quen với bọn choai choai trên ấy. Khổ! Mấy nhà buôn bán trong khu chợ người Việt, nhiều việc quá. Đầu ngập trong hàng, miệt mài từ sáng đến tối mới về tới nhà, họ không có thời gian để mắt tới con cái, nên bọn trẻ cứ tự do túm tụm mỗi nhóm mấy đứa. Sẵn tiền bố mẹ cho, rủ nhau làm toàn chuyện ruồi bu. Kéo được nó về, rồi động viên nó học tiếp, sau này vào được Tổng hợp Dresden, thực sự là kì công của lão. Em cũng mừng.
- Thế còn cái Hường sao? Ổn rồi chứ?
- Nghĩ lại cũng thương lão, chuyện thằng Hoàng vừa xong thì lại đến lượt cái Hường. Biết soi gương đánh phấn một tí là cãi ngang như cành bứa. Váy áo thì mỗi ngày thay một bộ. Suốt ngày chúi đầu chúi mũi vào Handy, không nhờ được việc gì.
- Những chuyện đó em đã kể với anh rồi, có gì mới không?
- Mấy năm trước còn bé, bố mẹ đi chơi đâu nó theo đấy, giờ thì không, từ chối thẳng thừng. Mình ăn cơm, có thói quen nhai tóp tép, nó bảo: Mẹ làm ơn ăn như người có được không? Ức lắm, nhưng không làm gì được nó. Bữa thấy nó mang cái đầu nhuộm xanh nhuộm đỏ về, em khóa cửa vụt cho một trận. Nó lấy điện thoại ra gọi cảnh sát, may lão về kịp. Nó lí giải với lão rằng, nhuộm tóc để đi chơi với các bạn, khỏi phải bị chúng nó gọi là “con đầu đen”. Bạn thì toàn người Đức, nó không chơi với ai là người Việt. Ra ngoài phố, có ai đó hỏi bằng tiếng Việt, nó chỉ trả lời bằng tiếng Đức, hiểu thì hiểu, không hiểu thì thôi. Sau này nó học đòi theo trường phái Rômchết tiệt nào đấy, từ đầu xuống chân đen như một con quạ. Hai mẹ con chỉ ngồi cách nhau nửa mét là bắt đầu cãi lộn. Nhưng nó lại rất hay thủ thỉ với lão. Em cự lại:
- Trống đánh xuôi, kèn thổi ngang thì làm sao dạy được con?
Lão bảo:
- Đừng lấy cường quyền mà bắt con cái phải làm theo những điều mình muốn. Những điều đó có khi lại sai. Ở trường, chúng nó được thầy cô dạy bảo theo đúng kiểu Đức, về nhà đôi khi lại bị cha mẹ bắt làm những điều ngược lại, chúng không biết mình phải làm gì, đi theo hướng nào, đang tuổi dậy thì, tâm lí non nớt của chúng dễ bị hoảng loạn.
Lão đưa con Hường về quê đợt này cũng là nhằm mục đích giáo dục nó. Chẳng là, hội người Việt của thành phố đã quyên góp được mấy nghìn “oi”,lão là chủ tịch hội, được thay mặt mọi người mang về giúp đồng bào bị bão lụt. Điện sang lão bảo: Có lẽ đây là lần cuối cùng làm việc này. Họ hỏi có bao nhiêu tiền! Bốn, năm nghìn chẳng nhằm nhò gì, đứng xếp hàng từ sáng đến tận trưa, đói sắp lả! Còn muốn quay phim, chụp ảnh thì phải trả tiền riêng cho nhà đài. Nản!
Lão đưa con bé đi theo, để nó tận mắt chứng kiến cảnh sống khổ cực của các gia đình bị nạn và để nó tự tay trao gói quà từ thiện. Qua đó, nó thấy được người Việt mình đã đùm bọc, thương yêu nhau như thế nào…Quả nhiên có tác dụng, điện sang cho em, lão kể: Con bé cứ khóc ròng. Nó muốn tặng lại chiếc va li quần áo và đồ tư trang, chỉ mang đúng một bộ trở lại Đức. Hi vọng sau chuyến đi này, nó sẽ thay đổi được những suy nghĩ lệch lạc của mình...
Không gian ắng lặng. Xa xa đâu đó, vẳng lại tiếng còi xin đường của xe công vụ. Hai người cùng thả hồn theo đuổi những cảm xúc riêng tư. Họ nghe được hơi thở của nhau và rõ cả tiếng ngựa gõ móng lộc cộc trên nền xi măng.
- Công nhận rằng, lão là người tốt! Nhưng bây giờ, người tốt quá thường bị thiên hạ gọi là ngu!
Sau khi tợp một ngụm Whiski, như để kết thúc câu chuyện, người đàn ông đưa ra lời kết luận đầy tính triết lí rồi lật người lại, trườn lên thân thể bạn tình.
Dưới sân, mưa đã thôi rơi, gió đã ngừng thổi, người xà ích đã đánh xe đi đón khách. Còn lại một mảnh sân mọng nước, loáng lên màu bàng bạc dưới ánh trăng đang bị những đám mây đen bỡn cợt. Một vệt sáng yểu của ngọn đèn đường vàng ệch, len được qua khe hở của tấm rèm cửa sổ, ngại ngùng soi lên chiếc giường có đôi gối nhồi lông vũ. Ở đó, đang quằn quại hai sinh vật trần trụi, trắng lốp, phì phì cuốn lấy nhau như đôi bạch xà.

* * *

Bệnh viện St. Elisabeth nằm bên ngọn đồi nhỏ, lối vào cửa chính là hai hàng phong thẳng tắp, trên cành vẫn còn khá nhiều lá đỏ. Qua một vườn hoa không lớn lắm là tới bức tường ngăn của nhà thờ St. Elisabeth. Người ta đặt móng xây nhà thờ từ năm 1894 và tới sau chiến tranh thế giới lần 1, nhà thờ tự bỏ tiền để thành lập bệnh viện này. Đầu tiên là những bà xơ và sau này là những y tá chuyên nghiệp phục vụ bệnh nhân. Trong mỗi phòng bệnh, bên trên cửa ra vào, người ta treo một cây thánh giá nhỏ bằng gỗ sồi. Vào đây, ai cũng có cảm giác như được Đức chúa che chở.

Ngôi nhà cũ có tầng áp mái, nằm trong khuôn viên cây cối tốt tươi vùng ngoại thành, ông Ngọ đã mua nó sau khi đón mẹ con Thuỳ sang được mấy năm. Tiền mua chẳng mấy, chỉ mươi mười lăm nghìn. Nhưng để ở được như bây giờ, cũng phải ném thêm vào đấy dăm bẩy chục nghìn nữa...Bình thường, chín giờ sáng, hai vợ chồng đã phải lên tới cửa hàng, nhưng từ hôm ông Ngọ bị đau nặng, Thuỳ phải ở hẳn nhà lo cơm nước và đưa chồng đi thăm khám. Ông Ngọ ho nhiều về đêm, để khỏi làm mất giấc ngủ của vợ, ông sang nằm bên phòng thằng con trai đang đi học ở xa. Rèm cửa được kéo lại, căn phòng tối nhờ nhờ. Thùy ngồi khá lâu bên giường, tay cô vuốt nhẹ lên bàn tay khô khốc, gầy guộc của chồng, gương mặt như lo lắng. Ông Ngọ nằm thiêm thiếp, hai mắt nhắm hờ nhưng thỉnh thoảng lại bục lên một cơn ho.

Đã từ lâu, ông mắc bệnh ngứa. Khám bác sĩ nội khoa chán, họ chuyển ông sang bác sĩ da liễu. Bôi hết cả lọ “Ecural”mà bệnh ngứa vẫn không khỏi, không những vậy ông còn bị sụt cân nhanh chóng. Đi chiếu chụp, bác sĩ bảo gan bị to. Điều trị cả năm trời nay mà bệnh gan vẫn chưa ổn. Mới đây ông bị sốt, kêu đau ngực, mệt, biếng ăn, không còn săng sái công việc kinh doanh được nữa, mọi lo toan đều dồn hết lên vai vợ. Đã mấy ngày phải treo biển đóng cửa hàng, Thuỳ rất sốt ruột. Vẻ bồn chồn lo lắng, hết vào phòng ngủ lại ra phòng khách, khuôn mặt cô lúc nào cũng đăm chiêu căng thẳng.

Cảm giác ngột ngạt, cô mở cửa sổ, thẫn thờ nhìn ra sau vườn. Không gian lạnh lẽo, hoang sơ mỗi khi mùa đông trở lại. Những đám mây đùng đục mầu nước gạo, nặng nề quanh quẩn trên đỉnh Peterberg xa xa. Gió đùa lao xao trên ngọn anh đào đã bắt đầu khô lá. Đôi chim cu gáy đang mải miết đan tổ trên nhành bạch dương nơi cuối vườn và cỏ đã bắt đầu lan dần trên lối đi nhỏ. Lát sau, sải những bước dài quay lại, Thuỳ quả quyết tới bên tủ quần áo và lấy ra một cái lọ, nó được cuốn kĩ bằng nhiều lớp folie vốn dùng để bọc đồ ăn. Cô lấy mũi dao nhọn gậy lớp băng dính quấn bên ngoài. Đó là một lọ thuỷ tinh nhỏ, kiểu dáng như đựng nước hoa rất đẹp, bên trong sóng sánh một ít nước không mầu trong vắt...

Ông Ngọ bỏ ăn đã ba ngày nay, chỉ uống chút nước hoa quả và sữa. Sáng ấy bỗng dưng kêu thèm bát cháo đậu xanh. Thuỳ bắc bếp, cho thêm nhúm gạo nếp. Chờ cháo chín, cô đánh thật nhuyễn rồi lọc lấy lòng đỏ một quả trứng gà thảy vào bát. Chưa kịp rắc thêm ít hành lá thái nhỏ lên cháo, Thuỳ giật bắn mình nghe tiếng thuỷ tinh vỡ phòng bên. Ngay sau đó là tiếng khàn khàn gấp gáp của chồng:
- Thuỳ... Thuỳ ơi...!
Thuỳ bỏ bát cháo đấy, vơ vội cái lọ nhỏ rồi chạy sang. Cốc nước rơi vỡ tung toé trên nền nhà. Ông Ngọ đang ưỡn người thở khò khè khó nhọc. Cô lóng ngóng lấy điện thoại di động, định bấm gọi cấp cứu112, nhưng nghĩ sao lại thôi. Ông Ngọ vẫn khó thở, cố hít vào những cơn thật sâu, ông có cảm giáclồng ngực như bị ngập úng nước, nhưng lại cằn khô và rát bỏng. Ông đưa tay chới với nắm lấy tay Thuỳ, giọng đứt quãng:
- Gọi...cấp... cứu!
Bàn tay xanh xao gầy guộc, gân nổi chằng chịt nhưng còn rất ấm áp đang nằm gọn trong tay Thuỳ. Mất vài giây lưỡng lự rồi cô bấm máy.
Xe cấp cứu của bệnh viện Elisabeth đã kịp tới.
Liên tiếp trong mấy ngày, người ta xét nghiệm và tìm hiểu nhân thân ông Ngọ. Bác sĩ Hoàng Sâm - người Sài Gòn, sang Đức học y khoa từ trước 1975 - đang công tác tại trường Đại học y khoa Dresden - được mời tới tham dự cuộc hội chẩn. Sau khi được Sứ quán Việt Nam cung cấp thông tin, các bác sĩ đã đi đến kết luận cuối cùng: Căn bệnh thế kỉ mà ông Ngọ đang mang trong người, là do hậu quả việc bị phơi nhiễm chất Dioxin từ thời chiến tranh. Kho vũ khí mà khi xưa ông Ngọ có nhiệm vụ coi giữ, được cho là đã nằm trong khu vực nhiễm nặng chất độc màu da cam của Mĩ. Trước khi ra về, bác sĩ Sâm đã nói riêng với Thùy: “Nặng đấy! Nhưng còn nước còn tát, cô yên tâm, bệnh viện sẽ điều trị tốt nhất như có thể. Hãy can đảm lên!”.

Cơn ho của người bệnh làm cho Thùy choàng tỉnh, cô hốt hoảng luồn tay dưới vai khẽ nâng đầu ông dậy. Có một ít máu lẫn trong nước bọt. Sáng nay, khi mọi người vào thăm, ông còn nói chuyện khá tỉnh táo. Bây giờ ông lại kêu đau ngực và khó thở. Thùy chuyển tay bấm nút gọi y tá. Bác sĩ Altnau tới và nói với cô rằng, phổi của ông Ngọ làm việc rất tồi, rồi cho người đi chuẩn bị máy trợ thở.

Ông Ngọ ngồi dựa lưng vào chiếc gối kê ở thành giường, mắt nhìn thẳng, nhưng không hướng vào đâu cả. Trong ông như có lửa bập bùng. Lồng ngực thì cạn khô rát bỏng, còn bên tai ông lại có cảm giác những cơn gió quái ác đang gầm gào. Mỗi lần thiếp đi, ông lại thấy mình bay rất nhẹ trong một cái hang đá sâu thăm thẳm. Cửa ra cuối hang chói loà ánh sáng, nhưng ông bay mãi không tới. Rồi hai chân ông nặng dần, không bay nổi nữa, ông rơi xuống vực sâu trong tiếng gió rít như xé vải bên tai, cơ thể vừa chạm đất, cũng là lúc ông giật mình tỉnh dậy. Ông Ngọ nặng nề đưa bàn tay lên gạt giọt mồ hôi đang thấm vào khoé mắt. Ông cảm thấy sức lực đã cạn dần, hơi thở khó khăn hơn, nhưng ngược lại, tiếng ù ù như gió thổi ngày càng rõ bên tai. Mí mắt quầng thâm nặng trĩu chỉ chực kéo ông vào những cơn mơ chập chờn...Trong ông, chợt vẳng lên mấy vần thơ giã bạn của Nguyễn Đình Thi: 

Rồi hôm nào bỗng gió bay
Cái bóng ngoài kia đến đợi
Anh giật mình đứng dậy
Đến giờ rồi hôm nay…

Vào giây phút này, ông linh cảm như có ai đó đang đứng đợi mình bên cửa. Bất giác, ông lần tìm tay vợ rồi nói qua hơi thở ngắt quãng:
- Các con… về chưa? Anh lo không được…gặp chúng.
Thùy rơm rớm nước mắt rồi lắc đầu. Cô đã gọi điện cho cả hai đứa, nhưng hôm qua cuối tuần, công nhân ngành đường sắt lại đình công, có lẽ chúng sẽ phải chuyển sang đi xe Bus đường dài.
Ông lại cất tiếng lào khào như người bị hụt hơi:
- Anh đã viết di chúc…rồi luật sư sẽ làm việc với em…cho anh xin lỗi!…Anh đã không đem lại được cho em… hạnh phúc.
Ông Ngọ lại ho, Thùy nghe thấy có tiếng rít của gió khi ông lấy hơi để thở. Cô ứa nước mắt, khẽ vuốt bộ ngực xẹp lép đang khó nhọc phập phồng. Ông nắm tay vợ rồi khẽ gọi tên cô:
- Thuỳ! Hãy nhớ lời anh dặn…sau khi anh chết…em hãy tìm lại cha cho các con của…chúng ta.
Thùy giật mình! Suốt sống lưng như có một luồng điện chạy rợn người, tim đập loạn nhịp, cô nắm chặt tay chồng hoảng hốt.
- Anh nói sao? Anh nói chuyện gì lạ vậy? Anh Ngọ!
- Anh đã biết hết rồi Thùy ạ…Anh đã có lỗi cả với các con.
Thùy mềm người khuỵu xuống bên giường. Tay cô bất giác chạm phảilọ thuỷ tinh nhỏ trong túi. Cô nhớ như in lời người đàn ông thì thào bên tai hôm ấy: Không mùi, không vị, chỉ chút xíu này thôi là lão sẽ “đi”...
Ngừng một lúc để lấy sức, ông Ngọ thều thào:
- Ngày ở rừng ra…sau xét nghiệm…bác sĩ đã nói với anh…rằng…không bao giờ có con!
Thùy ngẩng lên, nhưng không còn nhìn thấy gì nữa qua hai hàng nước mắt. Lát sau, cô từ từ áp má của mình vào gò má nhăn nhúm tái nhợt của chồng. Thùy muốn chuyền sang đó sinh lực ấm nồng của sự sống, Thuỳ muốn níu kéo thời gian... Nhưng, giờ đã muộn! Giây lát sau, cô nói trong tiếng nấc:
- Khổ thân anh quá anh ơi! Em có tội với anh nhiều! Nhưng biết vậy, sao anh vẫn yêu quý chúng như con đẻ của mình?
Nhìn vào mắt vợ, ông khẽ mỉm cười:
- Bởi vì…trẻ con là quà tặng của trời.
Tim Thuỳ nhói đau! Cô cất lên tiếng kêu thảng thốt.! Qua cửa sổ phòng ai hé mở, bỗng vọng ra những âm thanh cuối cùng và đang tắt dần của một bản Tango.
Bên tai ông Ngọ, tiếng gió lại nổi lên gầm gào.
… Lời ai văng vẳng
Hôm nào gió bay? 

Halle/S. 2014 - Cuối thu Giáp Ngọ.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

LỜI NGỎ

  Hội nhóm Quán Chiêu Văn là nơi dành cho những người yêu thích văn chương và viết lách lui tới giao lưu sinh hoạt và chia sẻ cùng nhau về sở thích. Thành viên tự nguyện tham gia, không phân biệt vùng miền, tuổi tác, giới tính, nghề nghiệp và vị trí công tác... Tất cả thành viên đều...

Thăm dò ý kiến

Bạn biết gì về Quán Chiêu Văn?

Thống kê
  • Đang truy cập6
  • Hôm nay762
  • Tháng hiện tại36,093
  • Tổng lượt truy cập2,676,851
QUÁN CHIÊU VĂN left
tn2
tn1
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây