NƠI HOA ĐÀO NỞ SỚM

Thứ tư - 13/01/2021 23:36
Tác giả: Lò Cao Nhum
Sương chưa tan, tôi đã có mặt trên ngọn núi cao nghìn mét. Đất bản Mông nhão nhoét vì mưa. Định leo qua một vai đèo nữa để vào Chà Đáy, Pà Háng nhưng chú ngựa sắt già khọm của tôi lực khực phì phì chào thua con dốc. Bất ngờ, những tia nắng đầu tiên của ngày mới xuyên chéo qua màn sương. Những mảng sương như mọc rễ ở núi, bây giờ uể oải thức dậy, bốc lên trốn chạy mặt trời.
Bản người Mông Xà Lĩnh im lìm lặng lẽ. Nhà nhà mở toang cánh cửa mà vắng ngắt bóng người. Người Xà Lĩnh đương bận mùa thu hoạch dong. Dọc đường lên, gặp những chiếc ô tô tải mang biển số Hà Nội, Phú Thọ, Nam Định, Ninh Bình... ghếch đuôi vào những đống dong riềng cao như ngọn núi. Dong Pà Cò, Hang Kia có uy tín lớn bởi tỷ lệ bột cao. Những củ dong mỏng vỏ ít xơ, nần nẫn như con chuột núi, no nê bởi sự mầu mỡ của thảm thực vật rừng nguyên sinh nhiệt đới.
Mùa dong riềng, với người Mông ở hai xã Pà Cò, Hang Kia (Mai Châu – Hòa Bình) ấy là vụ thu hoạch cuối cùng sản phẩm làm ra trong năm. Thu hoạch xong mùa củ cũng là lúc người Mông bắt đầu rậm rịch giã bánh dày cho ngày Tết của mình. Họ ăn Tết sớm hơn tết Nguyên đán khoảng một tháng. Ngày Tết ở bản Mông vui lắm, kỳ lạ lắm. Nó nao nao như chính trong lòng mình cũng nảy nở những chồi thắm nụ tươi. Nó rạo rực dòng suối men nồng tỏa lan khắp cơ thể. Nhìn từng đôi trai trẻ, gái tơ ném Pá pao gọi tình trong nắng, lòng khách lạ bồn chồn như con trâu kề vạt mạ xanh. Tôi có diễm phúc gặp Tết Mông mấy bận, ấy là cái diễm phúc gặp tâm trạng mình bỗng chốc biến hóa như cỏ non bén duyên nàng gió giêng hai. Chỉ ít ngày nữa thôi, cả bản Mông sẽ bừng lên sắc màu rực rỡ, phô ra giữa đất trời đường thêu tài nghệ, hoa văn diêm dúa trên những bộ váy áo ngày Tết.
Và bây giờ là những nụ mận, nụ đào đầu tiên đang tủm tỉm với khách như một tín hiệu rằng: Mùa xuân đã có mặt ở Xà Lĩnh. Lác đác mấy nhà đã thấp thoáng giữa vườn mận, vườn đào những tà áo, những dải khăn mới thêu phơi trên sào nứa. Vào giữa bản, thi thoảng cũng gặp người ngồi thêu trước cửa, hong ánh nắng ngoài sân. Nhìn hai cô gái thêu, tôi bỗng liên tưởng đến những ngày giáp Tết ở Pà Cò, Hang Kia mấy dạo Tết trước. Trong khi đàn ông bận bịu với công việc sắm Tết thì đàn bà, con gái từng tốp, từng tốp ngồi lặng thầm kiên nhẫn thêu những bộ váy áo mới. Sự bền bỉ trong công việc thêu thùa của phụ nữ Mông quả là đáng nể hiếm thấy. Để có bộ váy áo mặc ngày Tết, các bà, các chị em phải dồn công sức cả một năm, từ đập vỏ cây xe lanh thành sợi đến việc dệt thành tấm vải, phết sáp ong tạo hoa văn, nhuộm mấy lần lá chàm, sau đấy mới thêu thùa các loại chỉ màu, hình thành những tấm vải, vạt áo diêm dúa, những tấm váy lượn nếp xúng xính sắc đỏ, tím, vàng. Năm nào cũng vậy, mỗi độ Tết đến xuân sang, nhất nhất phụ nữ, đàn ông Mông phải có một bộ trang phục mới do chính tay mình làm ra.

Tết Mông là một cuộc triển lãm nền văn hóa của họ, tất cả những phong tục, tập quán đẹp đều được phô bày. Đấy là một phong cách văn hóa mạnh mẽ trên rẻo cao, sinh tồn trong sự khắc nghiệt của thiên nhiên và cuộc sống. Một lần tôi có mặt sau giao thừa tết Mông, được ấp ủ bởi chiếc chăn bông ấm áp, giấc ngủ đương nồng nàn, tôi bỗng giật mình bị thức dậy. Tiếng nổ của khẩu súng kíp cùng tiếng hú dài của anh Sùng A Vờ đã hất tôi ra ngoài sân. Tiếp theo là những loạt nổ vang rền của hàng chục cây súng kíp. Đàn ông bản Pà Cò cùng hú lên lời tiễn biệt năm cũ, hân hoan đón chào năm mới. Những chú gà trống gáy ran từ đầu bản đến cuối rừng. Mọi nhà mở toang cánh cửa. Đó là buổi sáng đầu tiên của năm mới.
Tết năm ấy tại nhà anh Sùng A Vờ, tôi bắt gặp hết thứ lạ này đến điều lạ khác. Dĩ nhiên là nó chỉ lạ với người ngoại tộc Mông, còn với người Mông đấy là nếp sống của họ. Sau tiếng súng kíp, ngoài sân trong bếp lục tục tiếng người. Gia đình anh Vờ ngả một con lợn cúng Tết ăn trong ngày. Buổi sớm thật sớm, tôi được con gái anh Vờ là cháu Sùng Y Múa bưng lên một chậu nước ấm mời rửa mặt trước khi vào cuộc rượu chào ngày đầu tiên của năm mới. Y Múa nói với tôi:
- Đây là nước vàng, nước bạc đấy chú ạ.
Hỏi ra mới biết, anh Sùng A Vờ vừa địu gùi gỗ đi lấy nước ở đầu bản về. Anh đi rất sớm để mong lấy được nước vào giờ khắc sớm nhất trong ngày đầu năm. Càng lấy được sớm, năm mới sẽ được may mắn lớn, sẽ có nhiều vàng, bạc, của cải. Trong chậu nước rửa mặt buổi sáng, bao giờ chủ nhà cũng thả vàng hoặc bạc vào với ý rằng: Năm hết Tết đến, rửa nước vàng nước bạc cho sáng sủa da thịt, cầu sự trong sáng của tâm hồn và thông thái của trí óc.
Tôi lại nhận ra một điều thú vị nữa trong gia đình anh Vờ, đó là sự dậy muộn của các bà vợ, con gái. Cháu Sùng Y Múa dậy sớm bưng nước cho tôi là một ngoại lệ. Múa có quyền dậy muộn như bất kỳ người phụ nữ Mông nào trong những ngày Tết. Họ không phải làm bất cứ một việc gì. Mọi việc trong nhà ngày Tết do đàn ông lo tất, kể cả rửa bát. Mới biết dân tộc Mông trân trọng phụ nữ biết nhường nào. Ai đã từng nghe “Tiếng hát làm dâu” trong dân ca Mông không khỏi cay mắt, mủi lòng cùng thân phận phụ nữ Mông, nhưng đấy là thân phận những cô gái làm dâu trong chế độ bất công, bị cưỡng ép, bị đối xử tệ bạc, trăm nghìn nỗi khổ cực đè nặng lên đầu, lên đôi vai gầy người phụ nữ mà thực chất họ là kẻ ở hầu hạ nô lệ nhà chồng.
Ăn sáng xong, tôi cầm điếu cày lân la vào bếp, ngồi vòng quanh bếp lửa cùng mấy chị em nhà Y Múa. Bên cạnh là một lò bếp khác, trên lò là một cái chảo to đùng chứa đầy nước, dung tích của nó dễ bằng cái bồn tắm đôi, lúc nào cũng luôn ấm nóng. Nước sôi sẵn này có thể dùng cho mọi sinh hoạt gia đình: Nấu cơm, pha trà, tắm rửa. Lửa củi cành Pơ mu hồng rực, khói thơm ngan ngát khắp gian nhà. Khi tôi bẻ đóm định thổi lấy lửa, mấy chị em Y Múa xúm lại ngăn:
- Chú đừng thổi vào lửa.
Tôi ngớ người. Mặc dù đã ý thức rằng sống với người Mông là phải hết sức tinh ý vì dân tộc Mông nhiều “ma” lắm, lỡ phạm vào điều húy của họ thì rầy rà, nhưng tôi vẫn bất ngờ. Y Múa giải thích:
- Ngày đầu năm không thổi lửa chú ạ.
Tôi thở phào, không phải vì tránh được điều khó chịu cho gia chủ, mà chính là tôi chộp được đầu mối có thể lần theo hỏi han những điều tín ngưỡng, những góc tâm linh trong đời sống người Mông. Lửa và nước, ngày thường vốn được quý trọng, ngày Tết bỗng trở thành linh thiêng. Đủ biết người Mông còn dung nạp nhiều tục kiêng có liên quan đến tín ngưỡng thời cổ đại. Ngọn lửa thắp sáng cho ngôi nhà, chứng kiến mọi cuộc vui buồn của con người, thiết thực mang lại nguồn sinh khí ấm áp mỗi khi mùa đông tháng giá tới. Vì thế, trong dịp Tết ngọn lửa trở thành có linh hồn, có thần thánh, liên quan chặt chẽ đến cuộc sống của con người. Người Mông quan niệm như vậy và những điều kiêng kỵ ra đời. Thổi vào bếp lửa họ cho rằng năm ấy sẽ nhiều gió bão. Bánh dày không được nướng lửa, sợ nương rẫy sẽ bị hạn. Lửa ngày Tết phải reo vui suốt ngày đêm trong bếp, nếu không đốt nương sẽ không cháy. Nếu rớt nước, đổ nước vào bếp, năm ấy sẽ có mưa to.
Ngoài những điều kiêng kỵ, không chỉ nước và lửa, trong đời sống tâm linh người Mông còn rất nhiều “ma” được cúng trong nhà. Xử cá là ma nhà được thờ ở giữa vách, gian đối diện với chính cửa ra vào. Nơi thờ là tờ giấy bản có dán lông gà và người ta thường thấy nó vào ngày ba mươi tháng chạp dịp Tết. Xia mình là ma liên quan đến sức khỏe con người. Bùa đắng(hay còn gọi Bón tù đắng) thờ phụng cha mẹ, tổ tiên đặt ở cột chính của nhà. Ngoài ra, người ta còn cầu cúng Hú sinh (ma bếp), Khó trù (ma lò), ma thầy cúng, ma chữa bệnh... Một ngôi nhà của người Mông ấm áp biết bao hình thức sinh hoạt gia đình, nơi nghỉ ngơi của mọi thành viên sau một ngày nhọc nhằn kiếm sống, nơi sản sinh và lưu truyền cả một nền nếp gia phong, cả một phong tục, tập quán tín ngưỡng của dân tộc. Vào nhà họ, sống với họ mới vỡ vạc ra rằng, đời sống tinh thần, tâm hồn, tình cảm của người Mông thật phong phú và mãnh liệt.
Xét cho cùng, dân tộc nào cũng vậy thôi, phải vật lộn để thích nghi và sinh tồn. Ở trên chóp núi Hang Kia, Pà Cò lạnh nhiều, nắng ít, sương mù quần đảo bay, bão gió xoáy giật thổi, mưa lở núi, nắng nẻ nương, con người phải đứng, phải ngồi, phải ngủ, phải ăn, phải ca hát đám cưới, phải khóc dài tang thương. Đàn ông khoác súng kíp trên lưng, cắp cán rìu bên sườn, bước sải dài lên núi. Đàn bà phải đeo lù cở sau lưng, bồng con thơ trước ngực, cắm cúi bước theo chồng lên nương. Lầm lũi đến ngang ngạnh trước thiên nhiên khắc nghiệt, đấy là người Mông. Cười vọng núi, múa nghiêng rừng, yêu quyết liệt, nhớ quyết liệt, quý trọng khách cũng quyết liệt, đấy là tính cách, bản chất và tâm hồn, tình cảm của người Mông.
Người Mông ở Pà Cò, Hang Kia không nhớ được tổ tiên của mình có biết bao lần di cư, để rồi đến sinh tụ tại đây. Theo cuốn Các dân tộc ít người Việt Nam (Các tỉnh phía Bắc) thì người Mông có hai đợt di cư lớn cách ngày nay khoảng 200 năm và 100 năm. Họ từ Quý Châu (Trung Quốc) đến Việt Nam. Bộ phận nhỏ người Mông ở Hang Kia, Pà Cò là thành viên của một trong hai cuộc di cư đó chăng? Bước chân của họ đã từng in dấu lên đỉnh núi, cánh rừng nào? Ở đây họ lưu truyền chuyện rằng: Đỉnh núi này có quả bí to như cái vạc, lợn rừng khoét lỗ chui vào đẻ con, nó vừa là ổ, vừa là thức ăn cho lợn. Huyền thoại đó nói sự mầu mỡ của đất đai rừng núi ở đây, nhưng cũng có ý nghĩa nhất định đối với sự hình thành lòng yêu quê hương, xứ sở, nảy nở lòng yêu nước Việt Nam của người Mông.
Người Mông ở Pà Cò, Hang Kia đã đứng vững giữa mây mưa nắng gió, cuộc sống của họ hôm nay đã bừng lên nụ cười, ngân vang tiếng hát, niềm vui cuộc đời đã lên cấp mới, ăn ngon, mặc đẹp, sung túc và văn minh. Có lẽ phải nhắc đến hai kỳ tích mà người Mông ở Pà Cò, Hang Kia phải đấu tranh giành giật từ chính bản thân mình.
Thập niên 90 của thế kỷ trước, hai xã Pà Cò, Hang Kia đã kiên quyết nhổ bỏ hàng nghìn héc ta nương vườn trồng cây thuốc phiện. Đồng thời với việc đó, hai xã cũng vận động hàng trăm người nghiện thuốc phiện (một kỷ lục rùng mình) đi cai theo hình thức tập trung, cộng đồng tại nhà và đã thành công. Cuộc cách mạng đó tưởng chừng không lung lay nổi cái gốc rễ cố thủ mạnh mẽ, một thói quen ngấm sâu trong mạch máu, tiềm thức và đời sống người Mông hàng trăm năm. Thế mà không đầy chục năm, đời sống người Mông đã trở lại trong lành và ngày càng hồng hào lên.
Một kỳ tích đáng kể nữa, đó là sự thay đổi lề lối làm ăn nhọc nhằn và trì trệ. Người Mông có tập quán ăn lúa nương, ngô rẫy, tiêu tiền bán thuốc phiện, quen du canh, du cư một nỗi khổ truyền kiếp. Họ đi làm nương xa hàng trăm cây số, nương của mỗi hộ phát trọc một quả núi, xâm canh đất rừng Mộc Châu, Quan Hóa, Mường Lát, Cun Pheo. Họ bồng bế con thơ đi dằng dặc hàng mấy tháng trời, dọn nương xong, gieo trồng xong mới trở về bản. Bây giờ người Mông ở Hang Kia, Pà Cò đã thâm canh cây lương thực, trồng cây ăn quả quy mô lớn, chăn nuôi đại gia súc, gia cầm. Họ đã làm ra ngày càng nhiều tiền nhờ cây mận hậu, nhờ trái đào phai và thêu thùa hàng thổ cẩm phục vụ khách du lịch. Cây mận hậu đã nhanh chóng thế chân cây thuốc phiện, cây ngô lai tiên tiến đã chiếm lĩnh các bưa bãi bằng thung lũng. Hàng trăm tấn ngô phục vụ dư dật nhu cầu tiêu thụ ở địa phương. Người Mông có tập quán ăn ngô xay, dùng bột ngô làm mèn mén, ủ rượu uống. Ngô cho gia súc, gia cầm và ngô chồng chất lên ô tô chở về miền xuôi. Một mặt hàng được khách du lịch ưa chuộng, đó là sự hấp dẫn của đường nét hoa văn đậm đà bản sắc Mông được thêu thùa trên chất liệu vải thô. Người Mông giỏi may vá, hàng trăm máy khâu đã cho ra đời những mặt hàng xinh xắn sắc màu rực rỡ. Đó là những chiếc túi thổ cẩm, những tấm tranh treo tường, trải bàn, những váy áo, dải yếm... đem bày bán ở chợ Pà Cò, các điểm du lịch trong huyện Mai Châu, trong tỉnh Hòa Bình và tận Hà nội...
Đường Xà Lĩnh dần hanh khô và tấp nập người đi chợ phiên. Tôi vẫn thích mải mê với những cành mận, cành đào chúm chím trong nắng ấm, chực phô ra như nụ cười của người Hang Kia, Pà Cò hân hoan đón mùa xuân mới.

Tác giả bài viết: Lò Cao Nhum

Nguồn tin: quanchieuvan.com

Tổng số điểm của bài viết là: 7 trong 2 đánh giá

Xếp hạng: 3.5 - 2 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

LỜI NGỎ

  Hội nhóm Quán Chiêu Văn là nơi dành cho những người yêu thích văn chương và viết lách lui tới giao lưu sinh hoạt và chia sẻ cùng nhau về sở thích. Thành viên tự nguyện tham gia, không phân biệt vùng miền, tuổi tác, giới tính, nghề nghiệp và vị trí công tác... Tất cả thành viên đều...

Thăm dò ý kiến

Bạn biết gì về Quán Chiêu Văn?

Thống kê
  • Đang truy cập10
  • Máy chủ tìm kiếm1
  • Khách viếng thăm9
  • Hôm nay1,274
  • Tháng hiện tại36,919
  • Tổng lượt truy cập3,087,856
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây